Toàn văn NGHỊ QUYẾT Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XIX nhiệm kỳ 2015 - 2020

Thứ ba - 30/05/2017 12:17
DSC 1940
DSC 1940

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ TỈNH LẦN THỨ XIX

                   

 

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

   Phủ Lý, ngày 24 tháng 9 năm 2015

 

 

                                         NGHỊ QUYẾT

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XIX

 nhiệm kỳ 2015 - 2020

 

          Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2015 - 2020, họp từ ngày 22/9/2015 đến ngày 24/9/2015 tại thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, sau khi thảo luận các văn kiện do Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVIII trình,

 

QUYẾT NGHỊ

          I- Tán thành những nội dung cơ bản về đánh giá 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2010 - 2015 và phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2015 - 2020 nêu trong Báo cáo Chính trị trình Đại hội khóa XIX:

          1- Về đánh giá 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2010 - 2015

          1.1- Những kết quả đạt được

          Năm năm qua, trong bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức, nhất là những năm đầu nhiệm kỳ do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, lạm phát tăng cao, Chính phủ thực hiện cắt giảm đầu tư công; sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gặp khó khăn; tranh chấp trên Biển Đông có thời điểm diễn ra căng thẳng, ảnh hưởng đến tư tưởng chính trị, đời sống, việc làm của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh, song với quyết tâm chính trị cao, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã đoàn kết, năng động, sáng tạo, tập trung trí tuệ, lãnh đạo các tầng lớp nhân dân trong tỉnh giành nhiều kết quả quan trọng, cơ bản hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu chủ yếu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII đề ra.

          Kinh tế phát triển ổn định, đạt mức tăng trưởng bình quân trên 13%/năm (giá so sánh 1994). Tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng bước đầu đạt kết quả tích cực. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng. Năm 2015, GDP bình quân đầu người đạt 42,3 triệu đồng, vượt chỉ tiêu Đại hội. Thu ngân sách đạt tốc độ tăng trưởng cao (21,4%/năm), về đích trước 2 năm so với chỉ tiêu Đại hội. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm đạt trên 70.575 tỷ đồng, tăng bình quân 14,2%/năm.

          Công nghiệp đạt mức tăng trưởng cao; hoạt động xúc tiến đầu tư được đẩy mạnh, chủ động thu hút đầu tư và nhận được sự quan tâm cao của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, đặc biệt là doanh nghiệp Nhật Bản, Hàn Quốc, tạo động lực chính để thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững. Nông nghiệp phát triển khá toàn diện với nhiều mô hình tổ chức sản xuất, liên kết chuỗi giá trị có hiệu quả. Chương trình xây dựng nông thôn mới được triển khai mạnh mẽ, đồng bộ; hạ tầng nông nghiệp, nông thôn được đầu tư nâng cấp, diện mạo nông thôn có nhiều khởi sắc; đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn được cải thiện. Thương mại, dịch vụ có bước phát triển, thu hút thành công các bệnh viện Trung ương, trường đại học, cao đẳng về đầu tư cơ sở II tại tỉnh, tạo tiền đề đưa Hà Nam trở thành trung tâm dịch vụ chất lượng cao cấp vùng về y tế, giáo dục - đào tạo và du lịch. Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội được đầu tư có trọng điểm, hiệu quả, tạo động lực phát triển và môi trường đầu tư thuận lợi.

          Các hoạt động văn hóa, thông tin, báo chí, văn học nghệ thuật được đổi mới, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của tỉnh và đáp ứng đời sống tinh thần của nhân dân. Sự nghiệp giáo dục đào tạo, nguồn nhân lực được quan tâm phát triển, đạt kết quả toàn diện và vững chắc. Chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân từng bước được nâng lên. An sinh xã hội đảm bảo. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ổn định, thế trận quốc phòng toàn dân được giữ vững. Công tác phòng, chống tham nhũng, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo được quan tâm lãnh đạo, có chuyển biến tích cực.

          Công tác xây dựng Đảng đạt kết quả tích cực, trọng tâm là triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng và Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị, tạo chuyển biến về ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống. Hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở được củng cố, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động. Phương thức lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy được đổi mới theo hướng chủ động, sáng tạo, quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm, hướng về cơ sở. Hoạt động của HĐND, UBND có nhiều đổi mới; hiệu lực, hiệu quả trong quản lý, điều hành của các cấp chính quyền không ngừng được nâng cao. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đã phát huy được vai trò, vị thế, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng, chính quyền.

          1.2- Những khuyết điểm, hạn chế

          Việc khai thác nguồn lực ở một số lĩnh vực còn hạn chế, chưa tạo bước đột phá mạnh trong phát triển kinh tế và phát huy lợi thế vùng. Giá trị gia tăng lĩnh vực nông nghiệp và hiệu quả hoạt động của các cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, năng lực tài chính, năng lực cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp trong tỉnh thấp. Dịch vụ chưa tạo được chuyển biến rõ nét trong cơ cấu kinh tế. Một số quy hoạch còn chồng chéo, tổ chức quản lý và thực hiện quy hoạch chưa nghiêm. Công tác quản lý, sử dụng đất đai, khoáng sản có mặt còn hạn chế. Ô nhiễm môi trường còn bức xúc. Chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, đào tạo nghề, đặc biệt là đào tạo nghề cho lao động nông thôn chưa đáp ứng được yêu cầu, chuyển dịch cơ cấu lao động còn chậm. Tình hình đơn thư khiếu nại, tố cáo có thời điểm diễn biến phức tạp.

          Việc lãnh đạo, cụ thể hoá một số chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, của tỉnh ở một số đơn vị cơ sở chưa sát với tình hình thực tiễn. Kết quả thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) ở một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa tạo chuyển biến rõ nét. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng có lúc, có việc chưa đáp ứng được yêu cầu. Kết quả “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” ở một số cơ quan, đơn vị còn hình thức. Công tác quy hoạch, đào tạo nguồn cán bộ có mặt còn hạn chế; đánh giá tổ chức cơ sở đảng và đảng viên ở một số đảng bộ, chi bộ chưa sát. Một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa quan tâm đúng mức đến công tác kiểm tra, giám sát. Công tác phòng, chống tham nhũng có nơi hiệu quả chưa cao. Công tác dân vận, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể chính trị xã hội đã có đổi mới xong còn chậm. Việc thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội, tham gia góp ý xây dựng Đảng, chính quyền của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể hiệu quả chưa cao.

          Những khuyết điểm, hạn chế nêu trên có nguyên nhân khách quan nhưng trực tiếp quyết định vẫn là nguyên nhân chủ quan cần sớm được khắc phục: Một số cấp uỷ, chính quyền, nhất là người đứng đầu, trong lãnh đạo, chỉ đạo điều hành có lúc, có việc chưa thực sự tập trung, quyết liệt. Trình độ, năng lực, trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu. Môi trường kinh doanh chưa thực sự thuận lợi, cải cách thủ tục hành chính trong giải quyết một số công việc liên quan trực tiếp đến người dân và doanh nghiệp chưa được thực hiện triệt để. Sự phối hợp giữa các đơn vị có lúc, có nơi còn thiếu đồng bộ, chưa chặt chẽ, kịp thời.

          2- Một số bài học kinh nghiệm

          Một là, vận dụng sáng tạo các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, cụ thể hóa thành các nghị quyết chuyên đề, các nhiệm vụ trọng tâm, phù hợp với thực tế của tỉnh, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đạt hiệu quả tích cực; tranh thủ có hiệu quả sự chỉ đạo, giúp đỡ của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, bộ, ngành Trung ương; thu hút các nguồn lực cho đầu tư phát triển, tăng cường quan hệ đối ngoại gắn với đổi mới phương thức, lựa chọn đối tác thu hút đầu tư.

          Hai là, tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ Đảng và hệ thống chính trị, phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở và sự đồng thuận trong nhân dân.

          Ba là, chú trọng công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, điều hành của chính quyền có trọng tâm, trọng điểm, nhạy bén, quyết liệt, kịp thời, sâu sát, sáng tạo, bám sát thực tiễn, xử lý các tình huống linh hoạt, hiệu quả; kiên quyết khắc phục các tồn tại, yếu kém, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Hướng về cơ sở, chỉ đạo phát hiện, xử lý kịp thời vấn đề nảy sinh ở cơ sở, tạo sự đồng thuận cao trong nhân dân.

          Bốn là, kết hợp hài hòa phát triển kinh tế với phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hoá - xã hội; tăng cường củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; quan tâm chăm lo tới các đối tượng chính sách, đảm bảo an sinh xã hội, nhất là quan tâm phát triển kinh tế khu vực nông thôn.

          Năm là, coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, tập trung phát triển nguồn nhân lực, nâng cao trình độ cho cán bộ, công chức, bố trí, đánh giá, sử dụng đúng người, đúng việc, từ việc mà bố trí người. Xác định rõ trách nhiệm từng cấp, ngành, gắn trách nhiệm người đứng đầu, ủng hộ tư tưởng đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm gắn với kết quả công việc của từng cơ quan, đơn vị.

          3- Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nhiệm kỳ 2015 - 2020

          3.1- Phương hướng, mục tiêu tổng quát

 Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, đoàn kết, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên, với quan điểm ổn định là tiền đề, đổi mới là động lực phát triển, phát triển là mục tiêu, nền tảng và then chốt để giải quyết mọi vấn đề; tăng cường hiệu lực, hiệu quả của chính quyền; đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, phát huy tốt quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân. Đổi mới định hướng đầu tư và mô hình tăng trưởng, trọng tâm là công nghiệp hóa nông nghiệp; mở rộng liên kết, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, khai thác tối đa mọi tiềm năng, lợi thế để nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh nền kinh tế. Phát triển toàn diện lĩnh vực văn hóa - xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đảm bảo môi trường, an sinh xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, nhất là dân cư nông thôn. Tăng cường, giữ vững ổn định quốc phòng - an ninh; tạo chuyển biến tích cực về trật tự, an toàn xã hội. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, phòng chống tham nhũng, lãng phí, xây dựng tỉnh Hà Nam phát triển nhanh và bền vững.

          3.2- Các khâu đột phá

        1- Đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp theo hướng hiện đại, ứng dụng khoa học công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp nâng cao giá trị gia tăng, chuyển dịch mạnh lao động nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, làm nền tảng để xây dựng Hà Nam phát triển nhanh và bền vững.

          2- Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các cơ chế, chính sách vào thực tiễn của tỉnh, nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo động lực phát triển bền vững.

          3- Nâng cao chất lượng, trách nhiệm đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, trọng tâm là cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành, người đứng đầu cấp ủy Đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị.

          3.3- Các chỉ tiêu chủ yếu:

          1-  Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) - giá SS 2010 - tăng bình quân 10%/năm.

          2- Cơ cấu kinh tế đến năm 2020:

             Nông, lâm nghiệp:                                     9,1%          

             Công nghiệp - Xây dựng:                           59,3%

             Dịch vụ:                                                     31,6%                 

          3- Đến năm 2020, GRDP bình quân đầu người đạt 80,9 triệu đồng/người.

          4- Thu cân đối ngân sách trên địa bàn tăng bình quân 15%/năm; đến năm 2020 đạt 7.040 tỷ đồng.

          5- Giá trị sản xuất công nghiệp (giá SS 2010) tăng bình quân 15,1%/năm.

          6- Giá trị xuất khẩu trên địa bàn tăng bình quân 20%/năm.

          7- Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tăng bình quân 15,5%/năm.

          8- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 177.200 tỷ đồng, tăng bình quân 15,4%/năm(1).

          9- Năng suất lao động đạt 140 triệu đồng/người.

          10- Giải quyết việc làm mới bình quân 16.000 lao động/năm.

          11- Đến năm 2020, tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị còn 3,3%.

          12- Giảm tỷ lệ sinh bình quân 0,1‰/năm.

          13- Đến năm 2020, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 10%.

          14- Đến năm 2020, số bác sỹ/10.000 dân đạt 14,3 bác sỹ.

          15- Đến năm 2020, tỷ lệ giường bệnh/10.000 dân đạt 43,3 giường.

          16- Tỷ lệ hộ nghèo bình quân giảm 1,3%/năm trở lên.

          17- Đến năm 2020, tỷ lệ dân số có bảo hiểm y tế đạt 82%.

          18- Đến năm 2020, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 70%, trong đó qua đào tạo có chứng chỉ, bằng cấp đạt 55%.

          19- Hàng năm, có trên 87% gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hoá.

          20- Đến năm 2020, tỷ lệ hộ dân thành thị được dùng nước sạch đạt 100%; tỷ lệ hộ dân nông thôn được dùng nước sạch, nước hợp vệ sinh đạt 95% (trong đó sử dụng nước sạch đạt 80%).

          21- Đến năm 2020, tỷ lệ thu gom rác thải ở thành thị đạt 100% (90-95% được xử lý), nông thôn đạt 95% (70-80% được xử lý).

          22- Đến năm 2020, 50% các cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung.

          23- Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 4%/năm.

          24- Đến năm 2020, tỷ lệ lao động nông nghiệp/tổng lao động xã hội còn dưới 30%.

          25- Đến năm 2020, có từ 3 huyện và 65 xã trở lên đạt chuẩn nông thôn mới.

          26- Đến năm 2020, tỷ lệ đô thị hóa đạt 35%.

          27- Đến năm 2020, diện tích nhà ở bình quân đạt 25 m2/người.

          28- Giảm tai nạn giao thông bình quân mỗi năm từ 5% trở lên.

          29- Hàng năm, có trên 80% tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh. Trong nhiệm kỳ kết nạp trên 6.500 đảng viên.

          3.4- Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu

          - Về phát triển kinh tế - xã hội

          Đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp theo hướng hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng, chuyển dịch mạnh lao động nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, làm nền tảng để phát triển nhanh và bền vững. Tăng cường hợp tác với Nhật Bản và Israel, thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Lâm Đồng trong lĩnh vực nông nghiệp. Chuyển đổi hình thức tổ chức sản xuất gắn với thực hiện tích tụ ruộng đất để phát triển nền nông nghiệp công nghệ cao, bền vững. Phát triển mạnh chăn nuôi nông hộ, nhóm hộ theo hướng hợp tác xã kiểu mới gắn với các Đề án ứng dụng công nghệ tiên tiến trong chăn nuôi, xử lý môi trường. Tập trung huy động, lồng ghép các nguồn lực xây dựng nông thôn mới; có cơ chế hỗ trợ mạnh cho khu vực nông thôn, điều chỉnh phương thức hỗ trợ từ cấp phát sang thực hiện theo đề án cụ thể.

          Phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp chế biến, chế tạo, tạo nền tảng vững chắc để phát triển công nghiệp với tốc độ cao. Ưu tiên thu hút doanh nghiệp của các nước công nghiệp phát triển; chú trọng doanh nghiệp Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước Châu Âu; không tiếp nhận các dự án có hiệu quả thấp, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, sử dụng công nghệ lạc hậu. Rà soát, điều chỉnh quy hoạch các khu, cụm công nghiệp; hạn chế phát triển thêm các cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp. Phấn đấu lấp đầy 100% Khu công nghiệp Hòa Mạc, Khu công nghiệp Châu Sơn, Khu công nghiệp Đồng Văn III (giai đoạn I) theo quy hoạch. Ổn định công suất xi măng theo quy hoạch, công suất khai thác đá; phát triển hợp lý về quy mô, công suất các sản phẩm công nghiệp vật liệu xây dựng không nung, cấu kiện bê tông.

          Phát triển mạnh thương mại, dịch vụ, tạo động lực thúc đẩy phát triển công nghiệp, đô thị và đưa Hà Nam trở thành trung tâm dịch vụ chất lượng cao cấp vùng về y tế, giáo dục đào tạo vào năm 2020. Tiếp tục đầu tư Khu du lịch Tam Chúc, phấn đấu năm 2020 đón 1,8 triệu lượt khách về thăm quan Khu du lịch, nâng tổng số khách du lịch về địa bàn tỉnh đạt trên 2,5 triệu lượt khách/năm. Đầu tư hạ tầng để tiếp nhận các bệnh viện Trung ương, các cơ sở khám chữa bệnh chất lượng cao, các trường đại học công lập về đầu tư. Tạo điều kiện để đến năm 2017, bệnh viện Việt Đức, Bạch Mai đưa vào sử dụng; đến năm 2020, có 3.000 - 3.500 giường bệnh tại Khu Y tế chất lượng cao; có thêm 5 trường đại học, cao đẳng hoạt động trên địa bàn tỉnh, thu hút 3 - 5 vạn sinh viên. Phát triển đa dạng các loại hình tín dụng, ngân hàng; phấn đấu dư nợ tín dụng tăng từ 18-20%/năm, đến năm 2020 đạt 28 - 30 nghìn tỷ đồng.

          Làm tốt công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch gắn kết với việc tổ chức thực hiện theo hướng phát triển bền vững. Chú trọng quy hoạch và quản lý quỹ đất dọc các tuyến đường; không phát triển nhà ở ven sông, quy hoạch quỹ đất lợi thế để đấu giá tạo nguồn lực cho đầu tư phát triển.

          Tăng cường công tác bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng tài nguyên tiết kiệm, hiệu quả. Tập trung hoàn thiện đo đạc lập bản đồ địa chính, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; quản lý chặt chẽ khai thác tài nguyên, khoáng sản; phòng ngừa, kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường, đặc biệt môi trường làng nghề, cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, các khu chăn nuôi, xử lý rác thải y tế, rác thải đô thị và nông thôn. 

          Thực hiện đồng bộ các chính sách nhằm khai thác hiệu quả nguồn thu từ các lĩnh vực kinh tế đi đôi với tạo nguồn thu, nuôi dưỡng nguồn thu; phấn đấu đến năm 2020, thu cân đối ngân sách vượt tổng chi cân đối. Chi ngân sách đảm bảo đúng các quy định, chế độ, định mức của Nhà nước gắn với việc triệt để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và phòng chống tham nhũng.

          Tập trung huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển. Tăng cường xã hội hóa, huy động các nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách; thực hiện bán 100% vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp Nhà nước không cần nắm giữ; tư nhân hóa và đấu thầu khai thác các dịch vụ công gắn với tinh giản bộ máy, biên chế tại các cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập. Quản lý chặt chẽ đầu tư công, triển khai đầu tư các dự án theo kế hoạch đầu tư trung hạn được duyệt, đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát, nâng cao chất lượng đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh. Tập trung hoàn thiện hạ tầng khung, đưa vào sử dụng các dự án trọng điểm, có tác động lớn đến phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đẩy nhanh chương trình phát triển thành phố Phủ Lý, đô thị Duy Tiên, triển khai xây dựng Khu trung tâm hành chính mới của tỉnh, Khu trung tâm hành chính huyện Thanh Liêm theo quy hoạch. Phấn đấu thành phố Phủ Lý thành đô thị loại II, Duy Tiên trở thành đô thị loại IV trước năm 2020.

          Phát triển, mở rộng giáo dục đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Thực hiện hiệu quả đề án thí điểm tuyển học sinh THCS vào trường THPT chuyên Biên Hòa; thu hút các trường đại học công lập, các trường đại học nước ngoài vào Khu Đại học Nam Cao. Đổi mới công tác đào tạo nghề, liên kết, hợp tác với trường quốc tế; thực hiện các Đề án đào tạo nghề hỗ trợ cho doanh nghiệp Nhật Bản, Hàn Quốc. Chú trọng đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ trong từng ngành, lĩnh vực; có chính sách hợp lý, tập trung thu hút để xây dựng trung tâm nghiên cứu chế tạo phần mềm, trung tâm nghiên cứu công nghệ cao, trung tâm nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao khoa học kỹ thuật trên địa bàn tỉnh.

          Xây dựng, phát triển văn hóa, con người Hà Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa, khôi phục, duy trì các lễ hội văn hóa, truyền thống của tỉnh, kết hợp phát triển văn hóa với phát triển du lịch. Nâng cao chất lượng thể thao cơ sở; thực hiện hiệu quả Đề án phát triển thể thao thành tích cao.

          Thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống dịch bệnh, nhất là các dịch bệnh nguy hiểm, không để dịch bệnh lớn xảy ra. Nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân.

          Tập trung giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững. Thực hiện tốt chính sách đối với người có công và gia đình chính sách, công tác bảo hiểm xã hội, quan tâm thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế.

          - Về công tác quốc phòng - an ninh, tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo.

          Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc cho toàn dân. Chỉ đạo chặt chẽ diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, một số sở, ngành và diễn tập chiến đấu trị an cấp xã, phường, thị trấn. Tiếp tục triển khai có hiệu quả Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Hoàn thành tốt nhiệm vụ tuyển chọn gọi công dân nhập ngũ hàng năm. Kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng, phát triển kinh tế-xã hội với xây dựng tiềm lực, thế trận quân sự khu vực phòng thủ.

          Tập trung củng cố thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc từ cơ sở. Đảm bảo an ninh trật tự, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Bảo vệ tuyệt đối an toàn các mục tiêu kinh tế, chính trị trọng điểm, các sự kiện chính trị, các ngày lễ lớn; bảo vệ bí mật nhà nước, phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, kiềm chế, giảm phạm pháp hình sự, tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông, cháy, nổ.

          Nâng cao vai trò, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy đảng, chính quyền đối với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Thường xuyên rà soát, giải quyết các vụ tồn đọng, phức tạp; tập trung giải quyết kịp thời đơn thư mới phát sinh ngay tại cơ sở.        

          - Về công tác xây dựng đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.

          Đổi mới phương thức lãnh đạo, phong cách, lề lối làm việc, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và đảng viên. Mở rộng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đề cao trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp. Tiếp tục đẩy mạnh, thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4, Chỉ thị số 03 của Bộ chính trị (khóa XI), xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh.

          Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; tăng cường bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên. Chủ động đấu tranh ngăn ngừa, phản bác những quan điểm sai trái, luận điệu phản động, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

          Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ; coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, trọng tâm là cán bộ chủ chốt các ngành, các cấp và người đứng đầu. Điều chỉnh, bổ sung quy định tuyển dụng, chính sách thu hút nhân tài, những người có năng lực thực tiễn.

          Củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở; xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật của Đảng; tập trung kiểm tra, giám sát thực hiện nhiệm vụ trọng tâm về phát triển kinh tế - xã hội; thường xuyên kiểm tra, giám sát những lĩnh vực dễ phát sinh vi phạm, người đứng đầu các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.

          Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

          Tiếp tục thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết số 49, Kết luận số 92 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Chỉ thị số 15 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ Đảng; chỉ đạo thực hiện các giải pháp phòng, chống oan sai, sót lọt tội phạm.

          Đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là đơn giản hóa, rút ngắn thời gian và nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước; nâng cao chất lượng, trách nhiệm đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là trách nhiệm người đứng đầu; rà soát, sắp xếp các đơn vị sự nghiệp đảm bảo tinh gọn, hiệu quả; thực hiện tốt việc công khai, minh bạch để cải cách hành chính thực sự là yếu tố quan trọng góp phần đẩy nhanh thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế xã hội.

          Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và giám sát, phản biện xã hội.

          II- Thông qua Báo cáo kiểm điểm của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XVIII. Giao Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIX tiếp thu ý kiến của Đại hội, phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nhiệm kỳ tới.

          III- Thông qua Báo cáo tổng hợp ý kiến tham gia đóng góp vào dự thảo Văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

          IV- Thông qua Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI  “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

          V- Thông qua kết quả bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIX, gồm 51 đồng chí và bầu Đoàn đại biểu đi dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng gồm 17 đại biểu chính thức và 1 đại biểu dự khuyết. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIX hoàn chỉnh hồ sơ về kết quả bầu cử, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các ban đảng Trung ương có liên quan để quyết định chuẩn y theo quy định.

          VI- Giao Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIX căn cứ vào Nghị quyết Đại hội, trên cơ sở quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, xây dựng chương trình hành động, các kế hoạch công tác để nhanh chóng đưa Nghị quyết Đại hội đi vào thực tiễn cuộc sống.

          Đại hội kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh tiếp tục phát huy truyền thống của Đảng bộ, đoàn kết, thống nhất, khắc phục khó khăn, nêu cao tinh thần chủ động, sáng tạo, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, quyết tâm phấn đấu hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX đã đề ra, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng.

                                         T/M đoàn chỦ tỊch ĐẠI HỘI                                                             

                                                               BÍ THƯ TỈNH ỦY

                                                                  (đã ký)

                                                               Đ/C MAI TIẾN DŨNG

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Tiện ích
Đăng nhập
Thông kê truy cập
  •  Đang truy cập32
  •  Thành viên online2
  •  Máy chủ tìm kiếm1
  •  Khách viếng thăm29
  •  Hôm nay9,519
  •  Tháng hiện tại169,112
  •  Tổng lượt truy cập5,904,782
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây