Hỏi - đáp về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng của các tổ chức đảng ở cơ sở (TS. Tô Quang Thu - Nxb Chính trị quốc gia - 2013)

Thứ ba - 30/05/2017 11:34
Hỏi - đáp về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng của các tổ chức đảng ở cơ sở (TS. Tô Quang Thu - Nxb Chính trị quốc gia - 2013)

Phần thứ nhất

CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG

 

Câu hỏi 1: Phạm vi và trách nhiệm kiểm tra, giám sát của các tổ chức cơ sở đảng như thế nào?

Trả lời:

- Các tổ chức đảng có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát việc thực hiện, bảo đảm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, kết luận của Đảng, của cấp ủy cấp trên, của cấp mình và pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh.

- Các tổ chức cơ sở đảng (chi bộ, đảng ủy) kiểm tra, giám sát bằng cách chủ yếu sau đây:

Thông qua chế độ hội ý, hội báo phản ánh tình hình giữa đảng ủy (ban thường vụ) với các tổ chức đảng trực thuộc, giữa chi ủy với các tổ trưởng tổ đảng; qua sinh hoạt thường kỳ, qua tự phê bình và phê bình, phân tích chất lượng đảng viên, tổ chức đảng; qua bình xét chi bộ, đảng bộ trong sạch, vững mạnh và kiểm tra, đánh giá ưu điểm, khuyết điểm về lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện của đảng ủy, chi ủy, chi bộ, tổ đảng và của cán bộ, đảng viên trong việc chấp hành Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

- Cùng với việc kiểm tra, giám sát thường xuyên, đảng ủy, chi bộ cần có chương trình, kế hoạch kiểm tra định kỳ theo thời gian hoặc theo thời vụ, chu kỳ sản xuất, đợt vận động hoặc giám sát theo chuyên đề đối với tổ chức đảng và đảng viên sinh hoạt và hoạt động trong đảng bộ, chi bộ về những nội dung cần thiết.

- Khi có tổ chức đảng hoặc đảng viên có dấu hiệu vi phạm, bị tố cáo hoặc khi có yêu cầu kiểm tra của tổ chức đảng cấp trên thì có kế hoạch tiến hành kiểm tra theo đúng mục đích, yêu cầu, nguyên tắc, thẩm quyền, quy trình thủ tục.

Câu hỏi 2: Đảng viên có trách nhiệm gì đối với công tác kiểm tra, giám sát?

Trả lời:

Đảng viên có trách nhiệm tham gia công tác kiểm tra giám sát và chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng.

Đảng viên phải thường xuyên tự kiểm tra trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, kết luận của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và nhiệm vụ đảng viên, đồng thời nhắc nhở, đôn đốc đảng viên khác trong chi bộ, đảng bộ chấp hành. Thực hiện tốt tự phê bình và kịp thời phát hiện, phê bình trung thực, chân thành, thẳng thắn đối với đảng viên và tổ chức đảng trong chi bộ, đảng bộ có khuyết điểm hoặc có dấu hiệu vi phạm. Tích cực tham gia công tác kiểm tra, giám sát theo chương trình, kế hoạch kiểm tra giám sát của chi bộ, đảng ủy hoặc theo yêu cầu của cấp ủy và ủy ban kiểm tra cấp trên.

Mọi hoạt động của đảng viên đều phải chịu sự kiểm tra của chi bộ và các tổ chức đảng có thẩm quyền. Khi cấp ủy và ủy ban kiểm tra yêu cầu báo cáo, cung cấp tài liệu về những vấn đề có liên quan đến công tác kiểm tra, đảng viên phải thực hiện đầy đủ, không gây khó khăn, trở ngại cho công tác kiểm tra.

Câu hỏi 3: Phương pháp tiến hành công tác kiểm tra, giám sát của Đảng như thế nào?

Trả lời:

Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng là công tác đảng, là sinh hoạt đảng. Vì vậy, tiến hành công tác kiểm tra, giám sát phải giữ đúng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, đúng tính chất công tác đảng.

Phương pháp cơ bản tiến hành công tác kiểm tra, giám sát là: dựa vào tổ chức đảng; phát huy tinh thần tự giác của tổ chức đảng và đảng viên; phát huy trách nhiệm xây dựng Đảng của quần chúng; làm tốt công tác thẩm tra, xác minh đối với công tác kiểm tra; phối hợp chặt chẽ công tác kiểm tra của Đảng với công tác thanh tra, kiểm toán của Nhà nước, thanh tra nhân dân, công tác kiểm tra, giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội.

Câu hỏi 4: Vì sao công tác kiểm tra, giám sát phải dựa vào tổ chức đảng?

Trả lời:

Tổ chức đảng là cơ quan lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện, quản lý đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới. Có dựa vào tổ chức đảng thì cấp ủy và ủy ban kiểm tra cấp trên mới có cơ sở để hiểu rõ đặc điểm, tình hình của đảng bộ, những thuận lợi, khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng, ưu điểm, khuyết điểm, dấu hiệu vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên tạo điều kiện cho việc xem xét, nhận xét đánh giá hoặc kết luận được kịp thời, chính xác. Mặt khác, cũng thông qua tổ chức đảng để giáo dục, đấu tranh, giúp đỡ, tạo điều kiện để đảng viên nhận rõ khuyết điểm, vi phạm (nếu có) để khắc phục, sửa chữa, tiến bộ. Đồng thời, giúp tổ chức đảng thấy được trách nhiệm của mình trong việc quản lý, giáo dục, rèn luyện, kiểm tra, giám sát đảng viên để điều chỉnh kịp thời.

Câu hỏi 5: Vì sao công tác kiểm tra, giám sát phải phát huy tinh thần tự giác của đảng viên và tổ chức đảng?

Trả lời:

Đảng viên là những chiến sĩ tiên phong tự nguyện xin gia nhập Đảng, phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tổ chức đảng được thành lập theo nguyên tắc tổ chức và cơ cấu tổ chức của Đảng có mục tiêu và nhiệm vụ chính trị rõ ràng, do Điều lệ Đảng quy định. Đó là cơ sở tư tưởng và tổ chức để đảng viên và tổ chức đảng tự giác chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ được giao, tự giác chịu sự kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng có thẩm quyền và tự kiểm tra. Cùng với việc tổ chức đảng trực tiếp quản lý nắm được ưu điểm, thiếu sót, khuyết điểm, dấu hiệu vi phạm của đảng viên, tổ chức đảng thì chính đảng viên và tổ chức đảng sẽ tự biết được ưu điểm, khuyết điểm, hạn chế, dấu hiệu vi phạm của mình, tự mình tự giác, tự nguyện tự phê bình, kiểm điểm thì sẽ giúp việc kiểm tra, giám sát rút ngắn thời gian, có chất lượng, hiệu quả. Vì vậy, công tác kiểm tra, giám sát phải phát huy tinh thần tự giác của đảng viên và tổ chức đảng.

Câu hỏi 6: Vì sao công tác kiểm tra, giám sát phải phát huy tinh thần trách nhiệm xây dựng Đảng của quần chúng?

Trả lời:

Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Một trong những phương châm xây dựng Đảng là tổ chức cho quần chúng tham gia xây dựng Đảng, góp phần kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức đảng, kiểm tra, giám sát công tác và phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Quần chúng gắn bó với tổ chức đảng và đảng viên. Mọi hoạt động của tổ chức đảng, đảng viên, kể cả ưu điểm, thiếu sót, khuyết điểm, hạn chế, dấu hiệu vi phạm, quần chúng luôn luôn quan tâm và nhận biết. Vì vậy, công tác kiểm tra phải phát huy tinh thần trách nhiệm xây dựng Đảng của quần chúng. Những ý kiến đóng góp của quần chúng đối với tổ chức đảng và đảng viên sẽ giúp thêm cơ sở để tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, kết luận được khách quan, chuẩn xác.

Câu hỏi 7: Vì sao kiểm tra phải làm tốt công tác thẩm tra, xác minh?

Trả lời:

Yêu cầu cơ bản trong công tác kiểm tra là phải đánh giá, kết luận đúng ưu điểm, khuyết điểm, vi phạm (nếu có) của tổ chức đảng và đảng viên được kiểm tra để có quyết định chính xác. Muốn vậy, ngoài việc phải dựa vào tổ chức đảng, phải phát huy tinh thần tự giác tự phê bình của đảng viên và tổ chức đảng, phát huy trách nhiệm xây dựng Đảng của quần chúng, phải hết sức coi trọng và làm tốt công tác thẩm tra, xác minh.

Thực tiễn cho thấy có nhiều tổ chức đảng và đảng viên có dấu hiệu vi phạm, khi được kiểm tra đã tự giác tự phê bình, kiểm điểm nghiêm túc trước tổ chức đảng có thẩm quyền nhưng cũng có không ít tổ chức đảng và đảng viên quanh co, giấu giếm khuyết điểm, vi phạm, thậm chí tìm mọi cách đối phó, gây khó khăn, trở ngại đối với công tác kiểm tra hoặc khuyết điểm, vi phạm lộ đến đâu thì nhận đến đó. Tổ chức đảng quản lý đảng viên và tổ chức đảng được kiểm tra, có nơi còn hữu khuynh, thiếu tinh thần chiến đấu, thậm chí dung túng, bao che cho đảng viên và tổ chức đảng vi phạm.

Mặt khác, mọi hoạt động của đảng viên và tổ chức đảng bao giờ cũng diễn ra trong không gian, thời gian, hoàn cảnh, điều kiện cụ thể, với những diễn biến, tình tiết khác nhau; nhiều khi có liên quan đến nhiều người, nhiều tổ chức, nhiều cấp, ở nhiều địa điểm, thời gian khác nhau; có việc còn giữ nguyên bằng chứng, có việc bằng chứng đã bị thất lạc hoặc thay đổi để xác định rõ đối tượng vi phạm, nội dung, tính chất, mức độ, tác hại và nguyên nhân của vi phạm và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ để có kết luận chính xác, xử lý công minh, chính xác, kịp thời; đòi hỏi khi tiến hành kiểm tra phải coi trọng và làm tốt công tác thẩm tra, xác minh; chưa thẩm tra, xác minh thì chưa được kết luận.

Câu hỏi 8: Chi ủy có phải là tổ chức đảng không? Nếu là tổ chức đảng thì có phải là chủ thể là đối tượng kiểm tra, giám sát không?

Trả lời:

Khoản 4, Điều 24 Điều lệ Đảng hóa XI quy định: "Chi bộ có dưới chín đảng viên chính thức, bầu bí thư chi bộ; nếu cần bầu phó bí thư. Chi bộ có chín đảng viên chính thức trở lên, bầu chi uỷ, bầu bí thư và phó bí thư chi bộ trong số chi uỷ viên".

Tiết 1.1.1 và Tiết 1.1.2, Điểm 1.1, Khoản 1 Điều 30 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:

"Chủ thể kiểm tra và giám sát: Chi bộ, đảng uỷ bộ phận, đảng uỷ cơ sở; cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ từ cấp trên cơ sở trở lên; uỷ ban kiểm tra; các ban đảng, văn phòng cấp uỷ, cơ quan uỷ ban kiểm tra (gọi chung là các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ); ban cán sự đảng, đảng đoàn (chỉ là chủ thể kiểm tra).

Đối tượng kiểm tra và giám sát: Chi bộ, đảng uỷ bộ phận, đảng uỷ cơ sở; cấp uỷ, ban thường cấp uỷ, thường trực cấp uỷ từ cấp trên cơ sở trở lên; uỷ ban kiểm tra; các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ; ban cán sự đảng, đảng đoàn; đảng viên".

Như vậy, theo các quy định trên thì chi ủy là tổ chức đảng, nhưng thực tế cho thấy mọi hoạt động của chi ủy đều do chi bộ lãnh đạo và quyết định, ra nghị quyết, chi ủy chỉ có trách nhiệm chuẩn bị nội dung sinh hoạt, hoạt động của chi bộ, chi ủy không có thẩm quyền ra nghị quyết, không có thẩm quyền thi hành kỷ luật. Vì vậy, chi ủy không phải là chủ thể và đối tượng kiểm tra, giám sát.

Câu hỏi 9: Đảng viên chưa đủ một năm tuổi Đảng có được bầu vào cấp uỷ Đảng không?

Trả lời:

Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 4-8-2009 của Bộ Chính trị (khóa XI) về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nêu rõ:

"Việc lựa chọn, giới thiệu nhân sự cấp uỷ khoá mới căn cứ vào tiêu chuẩn chung của cán bộ được quy định trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khoá VIII) về Chiến lược cán bộ. Cụ thể là:

- Tuyệt đối trung thành với mục đích, lý tưởng cách mạng của Đảng, có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tuỵ phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

- Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Có ý thức tổ chức kỷ luật. Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm.

- Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực và sức khỏe để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Cần đặc biệt nhấn mạnh tiêu chuẩn về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ được giao; uy tín trong Đảng, trong xã hội; tư duy đổi mới, khả năng tiếp cận, nắm bắt, xử lý vấn đề mới và vấn đề phức tạp nảy sinh; khả năng đoàn kết, quy tụ; phong cách làm việc khoa học, dân chủ, sâu sát, nói đi đôi với làm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.

Lãnh đạo chủ chốt của cấp uỷ phải thực sự tiêu biểu về bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức và sự cống hiến, có uy tín trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; nói chung đã kinh qua lãnh đạo chủ chốt cấp dưới.

Không cơ cấu vào cấp uỷ những cán bộ, đảng viên mà bản thân hoặc vợ (chồng), con vi phạm các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vi phạm những điều đảng viên, cán bộ, công chức không được làm.

Trên cơ sở tiêu chuẩn chung, các cấp uỷ xây dựng tiêu chuẩn cụ thể đối với từng đối tượng, từng chức danh cán bộ trong từng loại hình tổ chức, cơ quan, địa phương, đơn vị, sát hợp với yêu cầu nhiệm vụ của mỗi đảng bộ".

Như vậy, theo các quy định trên, không quy định đảng viên chưa đủ một năm tuổi Đảng thì không được bầu vào cấp uỷ.

Câu hỏi 10: Chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở xã có số lượng đảng viên ít (từ 3-5 đồng chí), mức thu nhập thấp, lại ở phân tán; đảng uỷ xã cho phép chi bộ trích lại 50% tiền đảng phí thu được, 50% nộp lên đảng ủy cơ sở xã. Như vậy là đúng hay sai?

Trả lời:

Tiết a, Điểm 1.1, Khoản 1 Mục II trong Công văn số 141-CV/VPTW/nb ngày 17-3-2011 của Văn phòng Trung ương Đảng hướng dẫn thực hiện Quyết định số 342-QĐ/TW ngày 28-12-2010 của Bộ Chính trị về chế độ đảng phí quy định: "Các chi bộ trực thuộc đảng bộ xã, phường, thị trấn; các chi bộ đại hội; chi bộ đồn, tàu biên phòng, tàu hải quân, tàu cảnh sát biển; các chi bộ đài, trạm ra đa; chi bộ đóng quân ở các xã biên giới vùng sâu, vùng xa, trên các đảo được trích lại 50%, nộp lên cấp uỷ cấp trên 50%".

Trường hợp nêu trên, đảng uỷ xã cho phép chi bộ trực thuộc được trích để lại 50% đảng phí thu được là đúng quy định theo quyết định của Bộ Chính trị.

Câu hỏi 11: Tại đại hội đảng bộ cơ sở, đồng chí Y được giới thiệu tham gia cấp uỷ khoá mới (2010 - 2015) nhưng đã xin rút khỏi danh sách bầu cử. Đoàn chủ tịch đại hội không cho rút, kết quả bầu cử: đồng chí Y không trúng cử cấp uỷ khoá mới. Có ý kiến cho rằng đoàn chủ tịch cố ý hạ uy tín đồng chí Y.

Ý kiến đó có đúng không?

Trả lời:

Tiết 1.3, Khoản 1 Điều 10 trong Quy chế bầu cử trong Đảng, ban hành kèm theo Quyết định số 220-QĐ/TW ngày 17-4-2009 của Bộ Chính trị khoá X quy định nhiệm vụ của Đoàn chủ tịch đại hội đảng. Một trong các nhiệm vụ đó là: "Tổng hợp danh sách những người ứng cử, đề cử và những người xin rút; xem xét, quyết định cho một số người được rút hoặc không được rút khỏi danh sách bầu cử; trường hợp còn nhiều ý kiến chưa thống nhất thì đoàn chủ tịch xin ý kiến của đại hội; lập danh sách bầu cử, lấy biểu quyết của đại hội thông qua danh sách bầu cử".

Như vậy, việc không cho đồng chí Y rút khỏi danh sách bầu cử thuộc thẩm quyền của Đoàn chủ tịch. Nếu đại hội đã biểu quyết thông qua danh sách bầu cử và đồng chí Y có tên trong danh sách đó thì Đoàn chủ tịch đã thực hiện đúng quy định. Do vậy, ý kiến như câu hỏi nêu trên là không đúng.

Câu hỏi 12: Một đảng viên bị xóa tên trong thời gian dự bị vì sinh con thứ ba vào năm 2004, đến nay đã có quá trình phấn đấu tích cực và có nguyện vọng được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Trường hợp này có kết nạp Đảng được không?

Trả lời:

Điểm 9.2, Mục 9 Quy định số 45-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng nêu rõ: "Đối tượng không xem xét kết nạp lại: Không xem xét, kết nạp lại những người trước đây ra khỏi Đảng vì lý do: vi phạm lịch sử chính trị và chính trị hiện nay theo quy định của Bộ Chính trị; tự bỏ sinh hoạt đảng; làm đơn xin ra Đảng (trừ trường hợp vì lý do gia đình đặc biệt khó khăn); gây mất đoàn kết nội bộ nghiêm trọng; bị phạt tù vì tội tham nhũng; bị án hình sự từ mức nghiêm trọng trở lên".

Như vậy, theo quy định trên thì trường hợp đảng viên bị xóa tên trong thời gian dự bị vì sinh con thứ ba vẫn được kết nạp lại vào Đảng. Tuy nhiên, việc xét kết nạp lại đảng viên phải căn cứ vào quá trình phấn đấu, rèn luyện và việc chấp hành chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước của đối tượng được xét kết nạp lại và yêu cầu của công tác xây dựng Đảng tình hình thực tế của từng đảng bộ để tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, quyết định.

------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
 

Phần thứ hai

ỦY BAN KIỂM TRA CÁC CẤP 

Câu hỏi 13: Cấp uỷ nào thì được bầu ủy ban kiểm tra? Nơi cấp ủy không được bầu ủy ban kiểm tra thì ai phụ trách công tác kiểm tra?

Trả lời:

Từ đảng ủy cơ sở trở lên, cấp ủy bầu ủy ban kiểm tra của cấp mình. Ở các đảng ủy bộ phận và chi bộ theo quy định của Đảng không được bầu ủy ban kiểm tra thì tập thể cấp ủy đó có trách nhiệm tiến hành công tác kiểm tra và phân công một đồng chí cấp ủy viên, chi ủy viên phụ trách công tác kiểm tra.

Ngoài ra, đảng ủy bộ phận có thể phân công một số đảng viên có khả năng, điều kiện để giúp đồng chí cấp ủy viên được phân công làm công tác kiểm tra.

Câu hỏi 14: Kiểm tra đảng viên của ủy ban kiểm tra khác với kiểm tra, phân tích chất lượng đảng viên theo định kỳ, với tự phê bình và phê bình thường xuyên của đảng viên như thế nào?

Trả lời:

Kiểm tra, phân tích chất lượng đảng viên là nhiệm vụ của các chi bộ và cấp ủy cơ sở, tiến hành định kỳ hằng năm đối với tất cả đảng viên của mọi tổ chức cơ sở đảng, theo nội dung hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương và ban tổ chức cấp ủy các cấp. Tự phê bình và phê bình là sinh hoạt thường xuyên của đảng viên và của các tổ chức đảng.

Kiểm tra đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp do Điều lệ Đảng quy định cho ủy ban kiểm tra các cấp, là kiểm tra từng cá nhân đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm theo nội dung và mốc thời gian do ủy ban kiểm tra các cấp xác định, có tiến hành thẩm tra, xác minh, có vận dụng hình thức tự phê bình và phê bình để làm rõ đúng, sai những nội dung được kiểm tra, có kết luận đối với từng đảng viên về ưu điểm, kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, về thiếu sót, khuyết điểm và nếu có vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật thì phải xem xét, xử lý kỷ luật kịp thời, nghiêm minh.

Đó là những điểm khác nhau quan trọng giữa kiểm tra đảng viên của ủy ban kiểm tra với kiểm tra, phân tích chất lượng đảng viên theo định kỳ và tự phê bình và phê bình thường xuyên của đảng viên.

Câu hỏi 15: Ủy ban kiểm tra làm việc theo chế độ tập thể như thế nào?

Trả lời:

Ủy ban kiểm tra làm việc theo chế độ tập thể là mọi việc thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ủy ban kiểm tra theo quy định của Điều lệ Đảng và quy chế làm việc của ủy ban kiểm tra do cấp ủy quyết định ban hành đều phải bàn bạc tập thể và quyết định theo đa số.

Việc bàn bạc tập thể của ủy ban kiểm tra chủ yếu thông qua chế độ hội nghị. Trong hội nghị, mọi thành viên ủy ban kiểm tra phát biểu thảo luận và tỏ rõ chính kiến của mình. Việc quyết định của ủy ban kiểm tra chủ yếu là thông qua việc bỏ phiếu kín. Đối với những vấn đề quan trọng, nếu kết quả bỏ phiếu kín không quá bán, thì tập thể ủy ban kiểm tra có thể tiếp tục thảo luận và bỏ phiếu biểu quyết quyết định lại. Việc tiếp tục thảo luận và bỏ phiếu biểu quyết quyết định lại do tập thể ủy ban kiểm tra quyết định. Trường hợp bỏ phiếu biểu quyết quyết định lại mà vẫn không quá bán thì báo cáo cấp ủy và ủy ban kiểm tra cấp trên quyết định. Khi bỏ phiếu biểu quyết quyết định, phiếu của các thành viên ủy ban kiểm tra đều có giá trị như nhau.

Câu hỏi 16: Ủy ban kiểm tra làm việc dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ cùng cấp như thế nào?

Trả lời:

Ủy ban kiểm tra làm việc dưới sự lãnh đạo của cấp ủy cùng cấp là phải báo cáo với cấp ủy cùng cấp tình hình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của ủy ban kiểm tra, báo cáo chủ trương, kế hoạch, nhiệm vụ công tác của ủy ban kiểm tra từng thời kỳ; nghiêm chỉnh chấp hành các nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy về công tác kiểm tra, quyết định của cấp ủy về quy chế làm việc của ủy ban kiểm tra và các nhiệm vụ do cấp ủy giao; chịu sự lãnh đạo và kiểm tra, giám sát của cấp ủy về mọi hoạt động của mình.

Câu hỏi 17: Ủy ban kiểm tra của đảng ủy cơ sở được ủy ban kiểm tra huyện ủy kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên, giải quyết khiếu nại về kỷ luật đảng. Trong kết luận có nêu là lập hồ sơ không đầy đủ. Vậy hồ sơ giải quyết tố cáo và giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng gồm những văn bản gì?

Trả lời:

Trong hướng dẫn của Ủy ban Kiểm tra Trung ương về việc lập hồ sơ và nội dung của từng loại hồ sơ của ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở như sau:

1- Hồ sơ giải quyết tố cáo, gồm có:

- Đơn tố cáo, bản ghi lời tố cáo bằng miệng (nếu có nhiều đơn thì lưu giữ theo thứ tự thời gian, các đơn trùng lập nội dung thì chỉ lưu giữ một đơn).

- Văn bản tóm tắt nội dung đơn tố cáo và yêu cầu ủy ban kiểm tra đối với đảng viên hoặc chi ủy, chi bộ bị tố cáo.

- Báo cáo giải trình của đảng viên hoặc tổ chức đảng bị tố cáo.

- Các tài liệu thẩm tra, xác minh.

- Biên bản các cuộc họp của chi bộ, ủy ban kiểm tra...

- Báo báo kết quả giải quyết tố cáo.

- Thông báo kết luận của ủy ban kiểm tra hoặc của cấp ủy về nội dung tố cáo.

2- Hồ sơ giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng, gồm có:

- Quyết định và tài liệu có liên quan đến quyết định thi hành kỷ luật và giải quyết khiếu nại trước đây (nếu có).

- Đơn khiếu nại kỷ luật của đảng viên (nếu có nhiều đơn thì lưu giữ theo thứ tự thời gian, các đơn trùng lắp nội dung thì chỉ lưu giữ một đơn).

- Các tài liệu thẩm tra, xác minh.

- Biên bản các cuộc họp, buổi làm việc giải quyết khiếu nại.

- Báo cáo kết quả giải quyết khiếu nại.

- Quyết định giải quyết khiếu nại của ủy ban kiểm tra hoặc cấp ủy có thẩm quyền về giải quyết khiếu nại.

Câu hỏi 18: Khoản 5, Điều 32 Điều lệ Đảng quy định nhiệm vụ của ủy ban kiểm tra các cấp là: "Kiểm tra tài chính của cấp ủy cấp dưới và của cơ quan tài chính cấp ủy cùng cấp". Đề nghị giải thích rõ nội dung kiểm tra tài chính mà ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở cần phải làm?

Trả lời:

Điểm 6.2, Khoản 6 Điều 32 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định đối tượng kiểm tra tài chính của ủy ban kiểm tra các cấp như sau: "Cấp uỷ cấp dưới và cơ quan tài chính cấp uỷ cùng cấp. Khi cần thiết thì kiểm tra tài chính các cơ quan, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp trực thuộc cấp uỷ cùng cấp".

Để cụ thể hóa Hướng dẫn trên, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã nêu rõ nội dung kiểm tra tài chính của Đảng ở cơ sở xã, phường, thị trấn trong tài liệu huấn luyện nghiệp vụ về công tác kiểm tra giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng, như sau:

1- Kiểm tra việc thu, chi ngân sách (từ ủy ban nhân dân chuyển sang; từ đảng phí và các nguồn thu khác); việc chấp hành các nguyên tắc, chế độ thu, chi, việc chấp hành chế độ kế toán và quyết toán định kỳ.

- Việc bảo đảm trợ cấp về tài chính cho cán bộ, đảng viên cơ sở.

- Việc chi tiêu, cấp phát sách báo.

-  Việc mở sổ, ghi chép, lưu trữ chứng từ thu, chi; việc quản lý sử dụng tài sản được cấp.

2- Kiểm tra việc thu nộp đảng phí:

- Kiểm tra việc thu nộp, sử dụng đảng phí của chi bộ.

- Kiểm tra việc đảng viên nộp đảng phí; việc thực hiện quyết định miễn đóng đảng phí đối với đảng viên; việc trích nộp theo tỷ lệ và sử dụng đảng phí.

- Kiểm tra bàn giao đảng phí ở những chi bộ mới chia tách, sáp nhập, giải thể…

Câu hỏi 19: Trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành hèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Chỉ có chi bộ, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp là cơ quan tài chính cấp ủy mới có thẩm quyền kiểm tra tài chính của Đảng".

Vậy, việc ủy ban kiểm tra lập đoàn kiểm tra có thành viên là cán bộ thanh tra và cán bộ tài chính thuộc cơ quan nhà nước để tiến hành kiểm tra cơ quan tài chính của cấp ủy cùng cấp có sai với quy định của Điều lệ Đảng không?

Trả lời:

Trước hết phải nhận thức đúng đắn rằng đây là cuộc kiểm tra tài chính của Đảng, do ủy ban kiểm tra của cấp ủy chủ trì tiến hành. Do nhiệm vụ và tính chất cuộc kiểm tra, ủy ban kiểm tra khi thành lập đoàn kiểm tra có quyền huy động một số đảng viên là cán bộ chuyên môn về thanh tra, tài chính tham gia đoàn kiểm tra để giúp việc kiểm tra bảo đảm có chất lượng, hiệu quảNhững đảng viên, cán bộ, chuyên viên được huy động phải chấp hành nghiêm chỉnh quy định của đoàn kiểm tra theo đúng nguyên tắc, phương pháp công tác đảng. Việc kết luận đúng sai là do ủy ban kiểm tra (cấp kiểm ra) kết luận. Do vậy trường hợp như câu hỏi nêu và không sai với quy định của Điều lệ Đảng.

Câu hỏi 20: Ủy ban kiểm tra của đảng ủy cơ sở có thẩm quyền thi hành kỷ luật không?

Trả lời:

Điểm 4.1, Khoản 4 Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở không có thẩm quyền kỷ luật đảng viên nhưng có trách nhiệm xem xét, kết luận, đề xuất đảng uỷ cơ sở và uỷ ban kiểm tra cấp trên xem xét, quyết định".

Câu hỏi 21: Ủy viên ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở do ban thường vụ huyện ủy chuẩn y, nhưng khi bị kỷ luật cách chức lại do đảng ủy cơ sở quyết định. Như vậy có đúng không?

Trả lời:

Việc chuẩn y danh sách thành viên được bầu cử trong các tổ chức đảng và phân cấp quản lý cán bộ của Đảng thuộc các quy định khác nhau và không đồng nhất. Việc chuẩn y thực hiện theo quy định về bầu cử trong Đảng. Việc kỷ luật đảng viên thực hiện theo quy định của Điều lệ Đảng và Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI ban hành kèm theo quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương và theo quy định về phân cấp quản lý cán bộ của Bộ Chính trị và cấp ủy các cấp.

Quyền chuẩn y và quyền quản lý cán bộ khác nhau, không nhất thiết cấp ủy chuẩn y đồng thời là cấp ủy quản lý đối với các chức danh bầu cử trong Đảng. Do đó, ủy viên ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở khi có vi phạm đến mức phải kỷ luật cách chức do đảng ủy cơ sở quyết định kỷ luật là đúng quy định về phân cấp quản lý cán bộ và thẩm quyền thi hành kỷ luật của Đảng.

Câu hỏi 22: Kiểm tra tài chính (thu, chi ngân sách) của Đảng ở cơ sở xã, phường, thị trấn và ở chi bộ về thu, nộp và sử dụng đảng phí gồm những nội dung gì?

Trả lời:

Nội dung kiểm tra tài chính (thu, chi ngân sách) của Đảng ở cơ sở xã, phường, thị trấn và ở chi bộ về thu, nộp và sử dụng đảng phí gồm:

- Đối với đảng ủy cơ sở xã, phường, thị trấn:

Kiểm tra việc thu, chi ngân sách (từ ủy ban nhân dân chuyển sang; từ đảng phí và các nguồn thu khác); việc chấp hành các nguyên tắc, chế độ thu, chi, việc chấp hành chế độ kế toán và quyết toán định kỳ.

Việc bảo đảm trợ cấp về tài chính cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở.

Việc chi tiêu, cấp phát sách báo.

Việc mở sổ, ghi chép, lưu trữ chứng từ thu, chi; việc quản lý, sử dụng tài sản được cấp.

Kiểm tra việc thu, nộp, sử dụng đảng phí.

- Đối với chi bộ:

Kiểm tra việc thu, nộp, sử dụng đảng phí của chi bộ.

Kiểm tra việc đảng viên thực hiện đóng đảng phí hằng tháng theo quy định.

Kiểm tra việc thực hiện quyết định miễn đóng đảng phí đối với đảng viên.

Kiểm tra việc trích nộp theo tỷ lệ lên đảng ủy cấp trên và sử dụng đảng phí được giữ lại của chi bộ.

Kiểm tra bàn giao đảng phí ở những chi bộ mới chia tách, sáp nhập, giải thể...

Câu hỏi 23: Ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm đối với tập thể ban chấp hành đảng bộ bộ phận và một số đồng chí trong ban chấp hành đảng bộ bộ phận đã hết nhiệm kỳ. Qua kiểm tra, đã phát hiện những dấu hiệu vi phạm trong giai đoạn đó. Hiện nay có hai loại ý kiến:

- Ý kiến thứ nhất: Cho rằng khi đảng bộ bộ phận đã đại hội hết nhiệm kỳ thì việc ra quyết định kiểm tra trên là vô hiệu đối với cả tập thể ban chấp hành đảng bộ bộ phận và các cá nhân đồng chí đảng ủy viên khóa đó.

- Ý kiến thứ hai: Cho rằng chỉ vô hiệu đối với tập thể ban chấp hành đảng bộ bộ phận, còn các đồng chí đảng ủy viên khóa trước vẫn là đảng ủy viên của đảng ủy đảng bộ bộ phận khóa này thì việc kiểm tra đảng viên không vô hiệu.

Ý kiến nào đúng?

Trả lời:

Điểm 2.2, Khoản 2, Điều 39 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Nếu tổ chức đảng sau khi sáp nhập, chia tách hoặc kết thúc hoạt động mới phát hiện có vi phạm thì tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên của tổ chức đảng đó xem xét, xử lý".

Điểm 4, Mục III Thông báo kết luận số 105- TB/UBKTTW ngày 15-5-2007 của Ủy ban Kiểm ra Trung ương đã nêu: "Trường hợp tổ chức đảng hết nhiệm kỳ mới phát hiện vi phạm chưa được xem xét, kết luận thì tổ chức đảng cấp trên trực tiếp tiến hành xem xét, kết luận theo đúng quy trình kiểm tra đối với tổ chức đảng. Tổ chức đảng kế thừa nhiệm vụ của tổ chức hết nhiệm kỳ trước đó làm báo cáo kiểm điểm. Khi tiến hành họp kiểm điểm cấp uỷ hay kiểm điểm ban thường vụ thì tổ chức đảng tiến hành kiểm tra mời những thành viên của tổ chức đã hết nhiệm kỳ của cấp uỷ hay ban thường vụ về dự họp để nghe kiểm điểm và trình bày ý kiến, nhưng không được biểu quyết, hoặc bỏ phiếu đề nghị hình thức kỷ luật vì các đồng chí về dự không còn là thành viên của cấp uỷ khóa hiện tại".

Như vậy, theo các quy định trên thì việc ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở quyết định kiểm tra ban chấp hành đảng bộ bộ phận và một số đồng chí trong đảng ủy đảng bộ là thực hiện đúng quy định. Đảng ủy đã hết nhiệm kỳ mới phát hiện có vi phạm vẫn phải tiến hành kiểm tra xem xét, kết luận. Nếu vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật, thì căn cứ nội dung, mức độ, tính chất, tác hại và nguyên nhân vi phạm mà áp dụng hình thức kỷ luật đối với tập thể, cá nhân có liên quan và ghi lý lịch từng thành viên của đảng ủy đảng bộ bộ phận đã hết nhiệm kỳ. Do đó, cả hai ý kiến trên đều chưa đúng.

Câu hỏi 24: Ủy ban kiểm tra đảng ủy xã A kiểm tra tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi phạm đối với chi ủy thôn B. Việc kiểm tra đó có đúng đối tượng không? Quy định cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy các cấp là nói cấp ủy các cấp hay chỉ là cấp ủy cấp trên cơ sở trở lên?

Trả lời:

Điểm 1.1.2, Khoản 1, Điều 30 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Đối tượng kiểm tra giám sát: Chi bộ, đảng uỷ bộ phận, đảng uỷ cơ sở, cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ, thường trực cấp uỷ từ cấp trên cơ sở trở lên; uỷ ban kiểm tra; các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ; ban cán sự đảng, đảng đoàn; đảng viên".

Theo Hướng dẫn trên thì chi ủy không phải là đối tượng kiểm tra. Tuy nhiên, có một số nơi đã kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với chi ủy, có nơi kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với chi bộ, thì tổ chức đảng có thẩm quyền đã kết hợp kiểm tra cá nhân các đồng chí trong ban chi ủy (đối với chi bộ có chi ủy), hoặc bí thư, phó bí thư chi bộ và đảng viên trong chi bộ có liên quan đến nội dung kiểm tra để việc kiểm tra đạt kết quả tốt.

Cũng theo Hướng dẫn trên thì quy định "Cấp uỷ, ban thường vụ cấp ủy, thường trực cấp uỷ từ cấp trên cơ sở trở lên" không bao gồm chi ủy, đảng ủy bộ phận, đảng ủy cơ sở. Vì khi kể tên các đối tượng kiểm tra, giám sát hướng dẫn đã liệt kê đúng tên đối tượng kiểm tra là"chi bộ, đảng uỷ bộ phận, đảng uỷ cơ sở" nên các đối tượng liệt kê sau đó không bao gồm chi ủy, đảng ủy bộ phận và đảng ủy cơ sở, mà muốn xác định từ cấp ủy và ban thường vụ cấp ủy từ cấp trên cơ sở trở lên.

Câu hỏi 25: Khi đồng chí C hết thời gian là đảng viên dự bị, do có vi phạm nên chi bộ ra nghị quyết đề nghị xoá tên trong danh sách đảng viên. Từ khi chi bộ đề nghị (tháng 6-2010) đến khi ban thường vụ huyện uỷ quyết định là một năm và một năm sau đảng viên C mới nhận được quyết định.

Vậy quyết định đó còn có hiệu lực thi hành nữa không?

Trả lời:

Về nguyên tắc, quyết định của ban thường vụ huyện uỷ về việc xoá tên trong danh sách đảng viên đối với đồng chí C có hiệu lực thi hành cho dù có thời gian như đã nêu trong câu hỏi là dài, làm cho đồng chí đó băn khoăn. Tuy nhiên, đây là một hiện tượng không bình thường trong sinh hoạt nội bộ Đảng phải xem xét, xử lý.

Ban thường vụ huyện uỷ, chi bộ và đảng uỷ (nếu có) phải nghiêm túc kiểm tra lại sự việc, làm rõ trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân có liên quan trong từng khâu của quá trình xem xét, xử lý nghị quyết đề nghị của chi bộ về việc xoá tên của đồng chí C trong danh sách đảng viên để rút kinh nghiệm
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
 

Phần thứ ba

THI HÀNH KỶ LUẬT TRONG ĐẢNG 

Câu hỏi 26: Những tổ chức đảng nào có thẩm quyền thi hành kỷ luật trong Đảng?

Trả lời:

Theo quy định của Điều 36, Điều lệ Đảng hóa XI, chỉ có các tổ chức đảng sau đây mới có thẩm quyền thi hành kỷ luật:

1-  Chi bộ.

2- Ban chấp hành đảng bộ các cấp (trừ đảng ủy bộ phận) và ban thường vụ của ban chấp hành đảng bộ tử cấp huyện quận và tương đương trở lên.

3- Ủy ban kiểm tra từ cấp huyện, quận và tương đương trở lên.

4- Các tổ chức đảng được Trung ương ủy quyền.

Ngoài các tổ chức đảng trên đây, các tổ chức đảng khác (ban cán sự đảng, đảng đoàn, các ban của cấp ủy...) không có thẩm quyền thi hành kỷ luật mà chỉ có quyền báo cáo và kiến nghị với cấp ủy có thẩm quyền thi hành kỷ luật đối với đảng viên và tổ chức đảng hoạt động trong lĩnh vực mình phụ trách.

Đảng ủy bộ phận và ban thường vụ đảng ủy cơ sở không được quyền thi hành kỷ luật đảng viên nhưng có trách nhiệm thẩm tra việc đề nghị thi hành kỷ luật của chi bộ. Ban thường vụ đảng ủy cơ sở có trách nhiệm thẩm tra đề nghị của ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở để đề nghị đảng ủy cơ sở xem xét, quyết định kỷ luật theo thẩm quyền.

Câu hỏi 27: Thẩm quyền thi hành kỷ luật của chi bộ và các cấp ủy đối với đảng viên hiện nay được Điều lệ Đảng quy định như thế nào?

Trả lời:

Điều 36, Điều lệ Đảng khóa XI quy định thẩm quyền thi hành kỷ luật của chi bộ và các cấp ủy đối với đảng viên như sau:

- Chi bộ quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp trên giao).

- Đảng uỷ cơ sở quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong đảng bộ, cách chức cấp uỷ viên cấp dưới.

Đảng uỷ cơ sở được uỷ quyền quyết định kết nạp đảng viên thì có quyền quyết định khai trừ đảng viên, nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp và đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý.

- Cấp uỷ tỉnh, thành, huyện, quận và tương đương quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp uỷ viên các cấp đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên; quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp uỷ viên cùng cấp vi phạm nhiệm vụ do cấp uỷ giao.

- Ban thường vụ cấp uỷ quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên; quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên, cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý vi phạm nhiệm vụ chuyên môn được giao.

- Ban Chấp hành Trung ương quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Bộ Chính trị.

Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, khiển trách, cảnh cáo Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên.

- Cấp uỷ cấp trên có quyền chuẩn y, thay đổi hoặc xoá bỏ hình thức kỷ luật do cấp dưới quyết định.

Câu hỏi 28: Việc thi hành kỷ luật bằng hình thức cách chức và khai trừ đối với chi ủy viên, Điều lệ Đảng khóa XI có những gì bổ sung, sửa đổi?

Trả lời:

- Khoản 1, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:"Việc cách chức, khai trừ cấp uỷ viên của chi bộ cơ sở do chi bộ cơ sở đề nghị, ban thường vụ cấp uỷ huyện, quận hoặc tương đương quyết định. Đảng uỷ cơ sở quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong đảng bộ, cách chức cấp uỷ viên cấp dưới".

- Như vậy theo quy định trên đối với thẩm quyền thi hành kỷ luật của cấp ủy cấp trên của chi bộ trong Điều lệ Đảng khóa XI bằng hình thức cách chức,  khai trừ đối với chi ủy viên thì không có sửa đổi, bổ sung. Cụ thể: Cách chức chi ủy viên do cấp ủy cấp trên trực tiếp của chi bộ (trừ đảng ủy bộ phận) quyết định; khai trừ chi ủy viên do huyện ủy, quận ủy và cấp ủy tương đương quyết định.

Câu hỏi 29: Theo Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương thì thẩm quyền thi hành kỷ luật đối với đảng viên của đảng ủy cơ sở thấp hơn thẩm quyền thi hành kỷ luật của chi bộ trong trường hợp thi hành kỷ luật các đối tượng vi phạm là cấp uỷ viên và cán bộ do cấp uỷ cấp trên quản lý, vì sao?

Trả lời:

- Khoản 1, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định về thẩm quyền kỷ luật của chi bộ và đảng ủy cơ sở như sau:

"Chi bộ quyết định khiển, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý) viphạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp trên giao)...

- Đảng uỷ cơ sở quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong đảng bộ, cách chức cấp uỷ viên cấp dưới.

Quyết định cách chức bí thư, phó bí thư, cấp uỷ viên của chi bộ hoặc đảng uỷ bộ phận trực thuộc nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp hoặc cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý.

Đối với cấp uỷ viên cấp trên trực tiếp trở lên và cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý sinh hoạt tại đảng bộ, nếu vi phạm đến mức phải kỷ luật thì đảng uỷ cơ sở đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định".

- Trong các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc vừa qua, ở mức độ khác nhau, Đại hội đã quyết định tăng cường, nâng cao vai trò, vị trí của chi bộ, nơi trực tiếp quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên về nhiều mặt, trong đó có việc bổ sung, sửa đổi quy định về thẩm quyền thi hành kỷ luật của chi bộ.

Quy định cụ thể về thẩm quyền thi hành kỷ luật của chi bộ (chi bộ cơ sở, chi bộ trong đảng bộ cơ sở, chi bộ trong đảng bộ bộ phận) như trên nhằm tạo điều kiện, tăng cường; nâng cao vai trò của chi bộ để đề cao sự quản lý, giáo dục đảng viên, trước hết là từ chi bộ. Do đó, thẩm quyền thi hành kỷ luật đối với đảng viên là cấp uỷ viên các cấp, cán bộ do cấp uỷ các cấp quản lý khác và đặc biệt hơn so với thẩm quyền thi hành kỷ luật của đảng ủy cơ sở (đối với đối tượng này và trong phạm vi nội dung vi phạm được quy định).

- Như vậy, đây là một quy định riêng thẩm quyền thi hành kỷ luật đặc biệt cho chi bộ được Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng quyết định với mục đích, ý nghĩa như nêu ở trên. Còn đảng ủy cơ sở, đảng ủy cấp trên cơ sở không có thẩm quyền thi hành kỷ luật đối với các cấp uỷ cấp trên vi phạm các nội dung thuộc thẩm quyền thi hành kỷ luật của chi bộ và không được ghi trong Khoản 1, Điều 36 Điều lệ Đảng. Giới hạn thẩm quyền thi hành kỷ luật của chi bộ là:

Chỉ được quyết định hai hình thức là khiển trách, cảnh cáo đối với đảng viên sinh hoạt trong chi bộ.

Đảng viên vi phạm mà chi bộ có quyền thi hành hai hình thức kỷ luật nói trên là đối với mọi đảng viên (cấp uỷ viên cấp trên cho đến ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và cán bộ do cấp uỷ cấp trên quản lý) nhưng chỉ trong phạm vi đảng viên có vi phạm về phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên nói chung và sự phân công cụ thể của chi bộ thì chi bộ xem xét, quyết định bằng một trong hai hình thức khiển trách, cảnh cáo.

Nếu cấp ủy viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý vi phạm nhiệm vụ do cấp trên giao hoặc phải áp dụng hình thức kỷ luật cao hơn thì chi bộ phai báo cáo cho tổ chức đảng quản lý đảng viên đó xem xét, xử lý theo thẩm quyền.

Khi thực hiện thẩm quyền thi hành kỷ luật, nếu được quyền trực tiếp quyết định kỷ luật thì quyết định có hiệu lực ngay sau khi chi bộ công bố kết quả biểu quyết kỷ luật. Việc báo cáo lên cấp trên là vấn đề có tính nguyên tắc, không phải để cấp trên quyết định.

Câu hỏi 30: Thủ tục thi hành kỷ luật trong Đảng gồm những vấn đề gì?

Trả lời:

Thủ tục thi hành kỷ luật trong Đảng gồm những quy định chủ yếu sau đây:

1- Đảng viên vi phạm phải kiểm điểm trước chi bộ, tự nhận hình thức kỷ luật; nếu từ chối kiểm điểm hoặc bị tạm giam, tổ chức đảng vẫn tiến hành xem xét, xử lý kỷ luật. Trường hợp cần thiết, cấp ủy và ủy ban kiểm tra cấp có thẩm quyền trực tiếp xem xét, xử lý kỷ luật.

2- Tổ chức đảng vi phạm phải kiểm điểm, tự nhận hình thức kỷ luật và báo cáo lên cấp ủy cấp trên quyết định.

3- Trước khi quyết định kỷ luật, đại diện tổ chức đảng có thẩm quyền nghe đảng viên vi phạm hoặc đại diện tổ chức đảng vi phạm trình bày ý kiến.

4- Quyết định của cấp dưới về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm phải báo cáo lên cấp ủy và ủy ban kiểm tra cấp trên trực tiếp; nếu đảng viên vi phạm tham gia nhiều cơ quan lãnh đạo của Đảng thì phải báo cáo đến các cơ quan lãnh đạo cấp trên mà đảng viên đó là thành viên.

5- Quyết định của cấp trên về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm phải được thông báo đến cấp dưới, nơi có tổ chức đảng và đảng viên vi phạm. Trường hợp cần thông báo rộng hơn thì do cấp ủy có thẩm quyền quyết định. Quyết định kỷ luật của ủy ban kiểm tra cấp trên đối với đảng viên vi phạm, nếu cần thông báo rộng hơn thì do ủy ban kiểm tra cấp trên quyết định.

6- Kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm có hiệu lực ngay sau khi công bố quyết định.

7- Việc biểu quyết kỷ luật phải thực hiện bằng phiếu kín.

8- Đảng viên giữ nhiều chức vụ bị kỷ luật cách chức, thì tùy nội dung, tính chất, mức độ, tác hại và nguyên nhân vi phạm mà cách một hay nhiều chức vụ.

9- Đảng viên bị hình phạt từ cải tạo không giam giữ trở lên sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thì tổ chức đảng có thẩm quyền phải quyết định khai trừ ra khỏi Đảng.

10- Đảng viên bị kỷ luật cách chức, trong vòng một năm, kể từ ngày có quyết định, không được bầu vào cấp ủy, không được bổ nhiệ vào các chức vụ tương đương và cao hơn.

11- Đề nghị của tổ chức đảng cấp dưới về kỷ luật cách chức, khai trừ đảng viên, giải tán tổ chức đảng khi chưa được tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên quyết định và công bố thì đảng viên đó vẫn được sinh hoạt đảng, sinh hoạt cấp ủy, tổ chức đảng đó vẫn được hoạt động.

Câu hỏi 31: Kỷ luật đảng có áp dụng đồng thời với hình thức kỷ luật hành chính và đoàn thể không?

Trả lời:

Điểm 1.3, Khoản 1, Điều 35 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Kỷ luật đảng không thay thế kỷ luật hành chính, kỷ luật đoàn thể hoặc việc xử lý bằng pháp luật và ngược lại. Cấp uỷ quản lý đảng viên sau khi xem xét, xử lý hoặc chỉ đạo việc xem xét, xử lý về kỷ luật đảng phải chỉ đạo các tổ chức có trách nhiệm xem xét, xử lý kỷ luật về hành chính hoặc đoàn thể được kịp thời. Trường hợp không thuộc thẩm quyền phải kiến nghị với tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, xử lý".

- Trong điều kiện Đảng cầm quyền, nội dung kỷ luật của Đảng bao gồm ba bộ phận sau:

Kỷ luật nội bộ Đảng (các vấn đề liên quan đến Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng được thể hiện qua nghị quyết, chỉ thị của Đảng).

Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước (là thể chế hoá quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng).

Kỷ luật của các đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội (hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng).

Do đó, nếu đảng viên vi phạm Hiến pháp, pháp luật và vi phạm kỷ luật của các tổ chức chính trị - xã hội mà mình tham gia đều là vi phạm kỷ luật của Đảng. Mặt khác, pháp luật, kỷ luật hành chính hay kỷ luật của các tổ chức chính trị xã hội đều có quy định riêng (luật, điều lệ, quy định) để xử lý các thành viên của xã hội hay tổ chức mình khi vi phạm.

- Căn cứ vào Hướng dẫn trên thì hình thức kỷ luật đảng không áp dụng đối với hình thức kỷ luật chuyên môn, hành chính và kỷ luật của các đoàn thể chính trị - xã hội. Tuy nhiên, việc xử lý kỷ luật đối với đảng viên vi phạm phải được tiến hành đồng bộ giữa kỷ luật về Đảng với kỷ luật về chính quyền và đoàn thể. Nếu đảng viên vi phạm kỷ luật đảng thì phải xem xét, xử lý cả kỷ luật về hành chính và kỷ luật của tổ chức chính trị xã hội mà đảng viên đó là thành viên.

Câu hỏi 32: Những năm trước đây, việc thi hành kỷ luật đối với đảng viên vi phạm đều được ghi hình thức kỷ luật vào lý lịch đảng viên, gần đây có ý kiến của cán bộ quản lý đảng viên cho rằng: "Việc ghi hình thức kỷ luật đối với đảng viên bị kỷ luật vào lý lịch đảng viên không còn được thực hiện".

Ý kiến đó đúng hay sai?

Trả lời:

Trong hướng dẫn kê khai hồ sơ lý lịch đảng viên từ trước đến nay của tổ chức đảng, các mẫu khai lý lịch, sơ yếu lý lịch đều có mục khen thưởng và kỷ luật. Mọi đảng viên được khen thưởng hoặc bị kỷ luật đều phải kê khai đầy đủ, kể cả những trường hợp khi tổ chức đảng bị thi hành kỷ luật thì tất cả các thành viên trong tổ chức đó đều phải ghi vào lý lịch của mình hình thức kỷ luật cùng với tổ chức đó (trừ những thành viên không liên quan đến vi phạm đó).

Đây là những quy định có tính nguyên tắc bắt buộc mọi đảng viên và tổ chức đảng quản lý đảng viên phải thực hiện, giúp cho tổ chức đảng quản lý đảng viên nắm chắc tình hình đảng viên, có biện pháp quản lý, giáo dục đảng viên Đến nay, chưa có bất kỳ văn bản nào bãi bỏ việc này.

Việc ghi hình thức kỷ luật vào lý lịch đảng viên là trách nhiệm của tổ chức đảng, do thường trực cấp uỷ trực tiếp chỉ đạo thực hiện. Đảng viên bị kỷ luật phải tự giác thực hiện việc ghi đầy đủ hình thức kỷ luật khi kê khai hồ sơ lý lịch hoặc bổ sung lý lịch đảng viên hàng năm. Vì vậy nếu có ý kiến như câu hỏi nêu là sai, cần phải báo cáo với thường trực cấp uỷ để chấn chỉnh, thực hiện cho đúng.

Câu hỏi 33: Đảng viên dự bị vi phạm kỷ luật vào thời gian cuối của thời kỳ dự bị thì có thi hành kỷ luật không?

Trả lời:

Theo quy định tại Điểm 2.3, Khoản 2, Điều 35 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương thì: "Đảng viên dự bị vi phạm đến mức phải kỷ luật thì kỷ luật khiển trách hoặc cảnh cáo và khi hết thời hạn dự bị, chi bộ vẫn tiến hành xét công nhận đảng viên chính thức. Nếu vi phạm đến mức không còn đủ tư cách đảng viên thì xoá tên trong danh sách đảng viên, không kỷ luật khai trừ".

Như vậy theo quy định trên, đảng viên dự bị vi phạm kỷ luật vào thời gian cuối của thời kỳ dự bị nếu đến mức phải kỷ luật thì vẫn xem xét, xử lý kỷ luật khiển trách hoặc cảnh cáo để bảo đảm nghiêm minh của kỷ luật đảng; khi hết thời gian dự bị, chi bộ vẫn xem xét, công nhận đảng viên chính thức đối với đảng viên vi phạm đó, nếu thấy có đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định.

Câu hỏi 34: Đại biểu đại hội đảng bộ bị thi hành kỷ luật bằng những hình thức khiển trách, cảnh cáo, tính đến ngày khai mạc đại hội chưa quá một năm thì có được tham dự đại hội đại biểu đảng bộ không? Có được ứng cử vào ban chấp hành đảng bộ không?

Trả lời:

Theo quy định hiện hành của Đảng, trường hợp đại biểu bị kỷ luật khiển trách cảnh cáo không thuộc diện "không triệu tập đến dự đại hội" mà thuộc diện phải "xem xét tư cách đại biểu". Sau khi xem xét, nếu thấy cần phải cho rút thì cho tiến hành các thủ tục cần thiết, kể cả kiến nghị ban thẩm tra tư cách đại biểu trình đại hội xem xét quyết định. Tuy nhiên, không phải tất cả các đại biểu không thuộc diện phải "xem xét tư cách đại biểu" đều bị bác tư cách đại biểu, mà chỉ là những trường hợp cụ thể thấy cần thiết xem xét như: Bị cách chức tính đến ngày đại hội chưa đến một năm, những đại biểu bị bác tư cách đại biểu đại hội cấp dưới, đại biểu đương nhiên bị kỷ luật cách chức cấp uỷ viên...

Trường hợp như câu hỏi nêu, nếu đủ tư cách là đại biểu dự đại hội được triệu tập và đại hội quyết định công nhận đủ tư cách (qua biểu quyết báo cáo của ban thẩm tra tư cách đại biểu) là có quyền ứng cử, đề cử, bầu cử đại biểu đi dự đại hội cấp trên. Theo quy chế bầu cử trong Đảng thì đảng viên chính thức đều có quyền ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của Đảng ở các cấp dù đảng viên có là đại biểu hay không là đại biểu dự đại hội.

Câu hỏi 35: Kỷ luật của Đảng gồm có những hình thức nào? Đảng viên dự bị vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng có kỷ luật bằng hình thức khai trừ không? Đảng viên chính thức vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng có áp dụng biện pháp xoá tên được không?

Trả lời:

- Khoản 2, Điều 35 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:

"2.1- Đối với tổ chức đảng: khiển trách, cảnh cáo, giải tán.

2. 2- Đối với đảng viên chính thức: khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ.

Đảng viên chính thức vi phạm nghiêm trọng đến mức phải khai trừ thì phải kỷ luật khai trừ, không áp dụng biện pháp xoá tên, không chấp nhận việc xin ra khỏi Đảng. Cấp uỷ viên vi phạm đến mức cách chức thì phải cách chức, không để thôi giữ chức.

2.3- Đối với đảng viên dự bị: khiển trách, cảnh cáo.

Đảng viên dự bị vi phạm đến mức phải  kỷ luật thì kỷ luật khiển trách hoặc cảnh cáo và khi hết thời hạn dự bị, chi bộ vẫn tiến hành xét công nhận đảng viên chính thức. Nếu vi phạm đến mức không còn đủ tư cách đảng viên thì xoá tên trong danh sách đảng viên, không kỷ luật khai trừ".

Như vậy, theo quy định trên thì đảng viên dự bị vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng đến mức không còn đủ tư cách đảng viên thì không kỷ luật bằng hình thức khai trừ mà chỉ xóa tên trong danh sách đảng viên. Đảng viên chính thức vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng thì phải căn cứ vào tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ để quyết định hình thức kỷ luật thích hợp, không áp dụng hình thức xóa tên trong danh sách đảng viên.

Câu hỏi 36: Điều lệ Đảng quy định hình thức kỷ luật đối với đảng viên chính thức gồm: khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ. Việc ghi thêm vào phiếu biểu quyết thi hành kỷ luật đảng viên mục: Kiểm điểm rút kinh nghiệm hoặc ý kiến khác để đảng viên tỏ rõ chính kiến của mình là đúng hay sai so với quy định của Điều lệ Đảng?

Trả lời:

- Khoản 2, Điều 35, Điều lệ Đảng khoá XI quy định về hình thức kỷ luật như sau:

2.1- Đối với tổ chức đảng: khiển trách, cảnh cáo, giải tán.

2.2- Đối với đảng viên chính thức: khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ...

2. 3- Đối với đảng viên dự bị: khiển trách, cảnh cáo.

- Sách tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng do Ủy ban Kiểm tra Trung ương ban hành năm 2012 về mẫu phiếu biểu quyết quyết định (hoặc đề nghị) thi hành kỷ luật cũng chỉ quy định cụ thể các ô về hình thức kỷ luật cụ thể đối với đảng viên chính thức. Việc ghi thêm vào phiếu kỷ luật mục kiểm điểm rút kinh nghiệm hoặc ý kiến khác vào phiếu kỷ luật là không đúng vì đó không phải là hình thức kỷ luật.

Câu hỏi 37: Khoản 1, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Đối bởi cấp uỷ viên các cấp sinh hoạt tại chi bộ, từ cấp uỷ viên đảng uỷ cơ sở cho đến Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương và cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý, nếu vi phạm nhiệm vụ do cấp trên giao (nhiệm vụ do cấp uỷ giao hoặc nhiệm vụ chuyên môn được giao) phải áp dụng hình thức kỷ luật từ khiển trách trở lên thì chi bộ đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét quyết định".

Vậy cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý được hiểu như thế nào? Chi bộ có quyền khiển trách, cảnh cáo bí thư chi bộ, chi uỷ viên, bí thư đảng uỷ bộ phận, đảng uỷ viên đảng bộ bộ phận sinh hoạt tại chi bộ không?

Trả lời:

Ngày 4-7-2007, Bộ Chính trị ban hành Quyết định số 67- QĐ/TW Quy định về phân cấp quản lý cán bộ và Điều 14 của Quy định này nêu rõ:"Căn cứ vào các quy định trên đây, các tỉnh uỷ, thành uỷ, các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương quy định có thể việc phân cấp quản lý cán bộ trong phạm vi phụ trách". Như vậy, mỗi cấp ủy đều có trách nhiệm cụ thể hoá về phân cấp quản lý cán bộ, đảng viên phù hợp với địa phương, đơn vị.

Khoản 1, Điều 36 Điều lệ Đảng khóa XI quy định: "Chi bộ quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sông, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp trên giao).

Đảng uỷ cơ sở quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong đảng bộ, cách chức cấp uỷ viên cấp dưới.

Đảng uỷ cơ sở được uỷ quyền quyết định kết nạp đảng viên thì có quyền quyết định khai trừ đảng viên, nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp và đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý".

Theo quy định trên, chi bộ có quyền khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp ủy viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp trên giao).

Trường hợp cấp ủy viên của cấp ủy cơ sở trở lên vi phạm nhiệm vụ do cấp trên giao hoặc nhiệm vụ chuyên môn được giao đến mức phải xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách, cảnh cáo thì do cấp ủy mà đảng viên đó là thành viên hoặc ủy ban kiểm tra của cấp ủy cấp trên có thẩm quyền quyết định.

Trường hợp cán bộ thuộc diện cấp ủy các cấp quản lý (theo phân cấp quản lý của cấp ủy có thẩm quyền), vi phạm nhiệm vụ cấp trên giao đến mức phải xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách, cảnh cáo hoặc phải xử lý kỷ luật bằng hình thức cao hơn (cách chức, khai trừ) thì chi bộ đề nghị lên cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra của cấp ủy quản lý cán bộ đó quyết định.

Trường hợp bí thư chi bộ, chi ủy viên, nếu trong phân cấp do đảng ủy cơ sở quản lý vi phạm nhiệm vụ cấp trên giao hoặc nhiệm vụ chuyên môn được giao đến mức phải xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách, cảnh cáo thì đảng ủy cơ sở quyết định.

Câu hỏi 38: Đảng viên X có vi phạm, chi bộ cơ sở thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo sau khi báo cáo lên cấp trên, ban thường vụ huyện ủy xem xét thấy việc xử lý kỷ luật của chi bộ chưa tương xứng với lỗi vi phạm và quyết định khai trừ ra khỏi Đảng.

Vậy, ban thường vụ huyện ủy xử lý kỷ luật như trên có đúng thẩm quyền không? Trước khi ra quyết định kỷ luật khai trừ đảng viên X ra khỏi Đảng thì có phải ra quyết định hủy bỏ quyết định kỷ luật cảnh cáo của chi bộ đối với đồng chí X không?

Trả lời:

Khoản 2, Điều 36 Điều lệ Đảng khóa XI quy định: "Ban thường vụ cấp uỷ quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên; quyết định khiển trách,cảnh cáo cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên, cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý vi phạm nhiệm vụ chuyên môn được giao".

Khoản 5, Điều 36 Điều lệ Đảng khoá XI nêu rõ: "Cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra cấp trên có quyền chuẩn y, thay đổi hoặc xoá bỏ hình thức kỷ luật do cấp dưới quyết định".

Khoản 2, Điều 38 Điều lệ Đảng hóa XI quy định: "Trường hợp tổ chức đảng cấp dưới không xử lý hoặc xử lý không đúng mức đối với tổ chức đảng và đảng viên vi phạm thì cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra cấp trên quyết định các hình thức kỷ luật theo thẩm quyền, đồng thời xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng đó".

Khoản 2, Điều 38 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:

"Trường hợp vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật nhưng tổ chức đảng cấp dưới không xử lý hoặc xử lý không đúng mức thì cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra cấp trên trực tiếp quyết định xem xét, xử lý kỷ luật theo thẩm quyền, không phải làm thủ tục từ dưới lên.

Đối với tổ chức đảng có trách nhiệm xem xét, xử lý nhưng không xử lý hoặc xử lý không đúng mức tổ chức đảng và đảng viên vi phạm thì phải xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng đó và nếu vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì phải xử lý đúng mức".

- Như vậy, theo các quy định trên và nội dung câu hỏi nêu thì tổ chức đảng cấp trên sau khi xem xét, thấy hình thức kỷ luật cảnh cáo của chi bộ đối với đảng viên X là chưa tương xứng với lỗi vi phạm, ban thường vụ huyện ủy quyết định tăng hình thức kỷ luật từ cảnh cáo lên khai trừ đối với đồng chí X là đúng thẩm quyền theo quy định của Điều lệ Đảng. Khi quyết định kỷ luật khai trừ đối với đồng chí X, ban thường vụ huyện ủy cần nêu rõ lý do tăng hình thức kỷ luật và trong quyết định cần có điều khoản nêu rõ việc hủy bỏ quyết định và hình thức kỷ luật của chi bộ.

Câu hỏi 39: Một đảng viên vi phạm, chi bộ đề nghị khai trừ, ủy ban kiểm tra quận ủy xem xét và ra quyết định cảnh cáo. Quyết định này bí thư chi bộ giữ lại, không phổ biến cho đảng viên và chi bộ chấp hành vì không nhất trí với quyết định của ủy ban kiểm tra quận ủy.

Sau đó, bí thư chi bộ đề nghị ban thường vụ quận ủy xem xét và ban thường vụ quận  ủy ra quyết định hủy quyết định kỷ luật của ủy ban kiểm ra quận ủy và nâng hình thức kỷ luật là khai trừ. Việc làm đó có sai thẩm quyền và nguyên tắc không?

Trả lời:

Theo nguyên tắc tổ chức của Đảng thì đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới phải nghiêm chỉnh chấp hành quyết định của tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên. Uỷ ban kiểm tra quận ủy là tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên của chi bộ trong việc quyết định kỷ luật đối với đảng viên. Bí thư chi bộ vì không nhất trí với quyết định kỷ luật đối với đảng viên của ủy ban kiểm tra quận ủy nên không phổ biến cho đảng viên và chi bộ chấp hành là vi phạm nguyên tắc tổ chức của Đảng, cần phải được xem xét làm rõ trách nhiệm của bí thư chi bộ.

Theo quy định tại Khoản 5, Điều 36, Điều lệ Đảng khóa XI thì ban thường vụ quận ủy có quyền chuẩn y, thay đổi hoặc xóa bỏ hình thức kỷ luật do ủy ban kiểm tra quận ủy quyết định. Trong trường hợp này, trước khi quyết định thay đổi hình thức kỷ luật, ban thường vụ quận ủy cần thẩm tra, xác minh, nghe ủy ban kiểm tra quận ủy trình bày về nội dung tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân của vi phạm và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, nghe đảng viên vi phạm trình bày ý kiến, nếu ban thường vụ chỉ nghe ý kiến của bí thư chi bộ mà quyết định thì vừa không đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục vừa dễ dẫn đến sai sót.

Câu hỏi 40: Đảng viên A là cán bộ xã (phụ trách thủy lợi) đã nghỉ hưu. Trong thời gian công tác, có vi phạm làm thất thoát kinh phí xây dựng thủy lợi (có kết luận của cơ quan có thẩm quyền).

Chi bộ đã tiến hành xem xét kỷ luật đồng chí A theo quy trình, kết quả bỏ phiếu có 21/23 đảng viên trong chi bộ đồng ý đề nghị kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đối với đồng chí A và báo cáo lên đảng ủy xã. Sau khi xem xét, đảng ủy xã thấy đồng chí A có vi phạm kỷ luật đảng và phải thi hành kỷ luật, nhưng chưa đến mức khai trừ ra khỏi Đảng, nên giao cho chi bộ xem xét lại. Song chi bộ chưa có điều kiện xem xét lại (vì nhiều lý do, trong đó có lý do đồng chí A vắng mặt vì đi làm ăn xa). Vì vậy, việc kỷ luật đồng chí A bị kéo dài từ năm 2010 đến nay.

Nay chi bộ yêu cầu tiếp tục xem xét kỷ luật đối với đồng chí A (vì chưa xử lý). Vậy cần giải quyết như thế nào?

Trả lời:

Khoản 1, Điều 35, Điều lệ Đảng khóa X và Điều lệ Đảng khóa XI đều quy định: "Tổ chức đảng và đảng viên vi phạm kỷ luật phải xử lý công minh, chính xác, kịp thời".

Trong trường hợp này, đồng chí A vẫn còn là đảng viên, đang đi làm ăn xa, chi bộ phải mời về để kiểm điểm, xem xét, xử lý kỷ luật. Nếu đảng viên A không về mà không có lý do chính đáng thì chi bộ vẫn xem xét, xử lý kỷ luật theo thẩm quyền.

Nếu chi bộ không xem xét, xử lý kỷ luật đồng chí A thì đảng ủy xã xem xét, xử lý kỷ luật theo thẩm quyền và xem xét trách nhiệm của chi bộ và đồng chí bí thư chi bộ. Căn cứ vào kết quả biểu quyết đề nghị thi hành kỷ luật của chi bộ đội với đảng viên A, đảng ủy xã trực tiếp xử lý kỷ luật theo thẩm quyền, không phải làm thủ tục từ dưới lên, kể cả trường hợp cần thay đổi hình thức kỷ luật. Nếu vi phạm của đồng chí A chỉ đến mức khiển trách, cảnh cáo thì đảng ủy xã quyết định. Nếu phải kỷ luật bằng hình thức khai trừ thì đảng ủy xã quyết định (nếu được ủy quyền) hoặc biểu quyết đề nghị ủy ban kiểm tra huyện ủy xem xét quyết định kỷ luật đồng chí A theo thẩm quyền.

Như vậy, ở vụ việc trên, cả đảng ủy xã và chi bộ đã không nghiêm túc trong việc chấp hành Điều lệ Đảng.

Câu hỏi 41: Đồng chí A là đảng ủy viên đảng ủy cơ sở kiêm bí thư chi bộ có vi phạm kỷ luật đến mức phải thi hành kỷ luật bằng hình thức cách chức chi ủy viên. Đảng ủy cơ sở có thẩm quyền ra quyết định kỷ luật không? Nếu không, phải giải quyết như thế nào? Nếu có vi phạm đến mức cách chức đảng ủy viên thì cấp nào quyết định?

Trả lời:

- Khoản 1, Điều 36, Điều lệ Đảng khóa XI quy định về thẩm quyền thi hành kỷ luật đảng viên vi phạm như sau: "Đảng uỷ cơ sở quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong đảng bộ, cách chức cấp uỷ viên cấp dưới".

Khoản 2, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng hóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:"Cấp uỷ tỉnh, thành, huyện, quận và tương đương quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên; quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên; quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp uỷ viên cùng cấp vi phạm nhiệm vụ do cấp uỷ giao".

- Như vậy, theo các quy định trên thì đảng ủy cơ sở có quyền quyết định cách chức bí thư, phó bí thư, cấp ủy viên của chi bộ và đảng bộ bộ phận, nhưng không phải cấp ủy viên cùng cấp hoặc cán bộ diện cấp ủy cấp trên quản lý.

Nếu bí thư, phó bí thư, cấp ủy viên của chi bộ và đảng bộ bộ phận là cấp ủy viên cùng cấp hoặc cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý có vi phạm phải áp dụng hình thức kỷ luật cách chức thì đảng ủy cơ sở đề nghị cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết định.

- Trường hợp đảng viên tham gia nhiều cấp ủy vi phạm đến mức phải cách chức cấp ủy cấp cao nhất hoặc khai trừ thì ban thường vụ cấp ủy cấp trên trực tiếp của cấp ủy cao nhất mà đảng viên đó là thành viên quyết định. Nếu phải cách chức cấp ủy viên một cấp dưới do ban thường vụ của cấp ủy quản lý đảng viên đó quyết định. Nhưng vì ban thường vụ đảng ủy cơ sở không có thẩm quyền thi hành kỷ luật nên quy định trên chỉ áp dụng cho đảng viên giữ nhiều chức vụ, tham gia nhiều cấp ủy thuộc diện cấp ủy huyện, quận hoặc tương đương sở lên quản lý.

- Trường hợp đồng chí A là bí thư chi bộ, đảng ủy viên đảng ủy cơ sở vi phạm kỷ luật đến mức phải thi hành kỷ luật bằng hình thức cách chức chi ủy viên. Đảng ủy cơ sở không có thẩm quyền quyết định cách chức chi ủy viên của đồng chí A vì đồng chí A là bí thư chi bộ nhưng lại là đảng ủy viên đảng ủy cơ sở (cấp ủy viên cùng cấp). Vì vậy, đảng ủy cơ sở phải đề nghị ban thường vụ quận huyện ủy hoặc tương đương xem xét, quyết định.

Câu hỏi 42: Đồng chí X là đảng viên không giữ chức vụ, có dấu hiệu vi phạm kỷ luật đảng, chi bộ tiến hành kiểm tra, kết luận có vi phạm và biểu quyết quyết định đề nghị xử lý kỷ luật, kết quả: Hơn 1/2 tổng số đảng viên trong chi bộ đồng ý thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo. Chi bộ báo cáo lên đảng uỷ xã. Đảng ủy xã đã họp xét và quyết định kỷ luật khai trừ đồng chí X ra khỏi Đảng.

Việc làm trên của chi bộ có đúng quy định không? Nếu sau khi bỏ phiếu, chi bộ quyết định thi hành kỷ luật đồng chí X bằng hình thức cảnh cáo có được không? Trường hợp đồng chí X vi phạm đến mức phải khai trừ ra khỏi Đảng, nhưng kết quả bỏ phiếu như trên thì phải tiến hành như thế nào?

Trả lời:

- Khoản 1, Điều 36, Điều lệ Đảng khóa XI quy định về thẩm quyền thi hành kỷ luật đảng viên như sau:

"Chi bộ quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp uỷ giao).

Đảng uỷ cơ sở quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong đảng bộ, cách chức cấp uỷ viên cấp dưới.

Đảng uỷ cơ sở được uỷ quyền quyết định kết nạp đảng viên thì có quyền khai trừ đảng viên, nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp và đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý".

Khoản 1, Điều 38, Điều lệ Đảng khóa XI quy định: "Tổ chức đảng và đảng viên vi phạm không thuộc thẩm quyền quyết định kỷ luật của cấp mình thì đề nghị lên cấp có thẩm quyền quyết định".

Điểm 3.1 và Điểm 3.2, Khoản 3, Điều 38 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỳ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng hóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:

"3.1- Quyết định kỷ luật hoặc đề nghị kỷ luật khiển trách, cảnh cáo, cách chức đối với đảng viên, khiển trách, cảnh cáo đối với tổ chức đảng phải được biểu quyết với sự đồng ý của trên một nửa số đảng viên hoặc thành viên của tổ chức đảng đó.

3.2- Trường hợp khai trừ đảng viên, giải tán tổ chức đảng phải được sự đồng ý của ít nhất hai phần ba số đảng viên hoặc thành viên của tổ chức đảng cấp dưới đề nghị và được sự đồng ý của trên một nửa số thành viên của tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền quyết định.

Nếu đảng viên vi phạm đến mức phải khai trừ hoặc tổ chức đảng vi phạm đến mức phải giải tán nhưng chưa đủ hai phần ba số đảng viên của chi bộ hoặc thành viên của tổ chức đảng cấp dưới biểu quyết đề nghị thì chuyển hồ sơ để tổ chức đảng cấp dưới biểu quyết đề nghị thì chuyển hồ sơ để tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Một nửa hay hai phần ba quy định ở trên được tính trên tổng số thành viên có quyền biểu quyết của tổ chức đảng (ở chi bộ là số đảng viên chính thức, trừ số đảng viên được miễn sinh hoạt không có mặt tại cuộc họp; ở cấp uỷ là tổng số cấp uỷ viên), không tính trên số thành viên có mặt trong cuộc họp".

- Như vậy, theo quy định trên, tổ chức đảng có thẩm quyền khi xem xét, xử lý kỷ luật tổ chức đảng hoặc đảng viên vi phạm phải quyết định theo đúng thẩm quyền, nếu không thuộc thẩm quyền thì đề nghị tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Trong trường hợp đồng chí X có dấu hiệu vi phạm kỷ luật đảng chi bộ xem xét, kết luận và tiến hành các thủ tục thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách hoặc cảnh cáo là đúng thẩm quyền. Song chi bộ lại không thực hiện thẩm quyền thi hành kỷ luật của mình mà báo cáo, đề nghị lên đảng ủy cấp trên thi hành kỷ luật là không đúng quy định của Điều lệ Đảng. Để làm đúng quy trình, sau khi bỏ phiếu kỷ luật, có trên 1/2 đảng viên sinh hoạt trong chi bộ tán thành thi hành kỷ luật đồng chí X bằng hình thức cảnh cáo, thì đó là quyết định thi hành kỷ luật của chi bộ đối với đồng chí X và quyết định đó của chi bộ có hiệu lực ngay, sau đó chi bộ mới báo cáo lên đảng ủy xã theo quy định.

- Khoản 2, Điều 38 trong Hướng dẫn trên quy định: "Trường hợp tổ chức đảng cấp dưới không xử lý hoặc xử lý không đúng mức đối với tổ chức đảng và đảng viên vi phạm thì cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra cấp trên quyết định các hình thức kỷ luật theo thẩm quyền, đồng thời xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng đó".

- Nếu sau khi đảng viên X bị chi bộ quyết định thi hành kỷ luật, tổ chức đảng cấp trên (đảng ủy, ủy ban kiểm tra của đảng ủy xã) qua kiểm tra thi hành kỷ luật, giải quyết khiếu nại hoặc qua nắm tình hình phát hiện thấy việc xử lý kỷ luật của chi bộ là chưa đúng mức thì đảng ủy xã thực hiện thẩm quyền theo quy định để xử lý kỷ luật đảng viên X đúng mức và xem xét, xử lý trách nhiệm của chi bộ.

Trường hợp đồng chí X vi phạm đến mức phải khai trừ ra khỏi Đảng nhưng kết quả bỏ phiếu như trên thì chi bộ vẫn phải chuyển toàn bộ hồ sơ lên tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên xem xét, xử lý theo thẩm quyền nêu tại Điểm 3 2, Khoản 3 Điều 38 trong Hướng dẫn trên.

Câu hỏi 43: Chi bộ có ba đảng viên lâu nay không tham gia sinh hoạt chi bộ, trong số đó có hai đảng viên đã chuyển công tác khỏi cơ quan đã hơn hai năm, còn một đảng viên khác hơn một năm không tham gia sinh hoạt chi bộ.

Năm vừa qua, các đảng viên đó không những không bị xem xét kỷ luật mà còn được chi bộ phân loại công nhận là đảng viên hoàn thành nhiệm vụ như những đảng viên đang công tác và sinh hoạt thường xuyên tại đơn vị. Việc làm đó đúng hay sai? Nếu sai thì xử lý như thế nào?

Trả lời:

- Khoản 4, Điều 2, Điều lệ Đảng khoá XI quy định đảng viên có nhiệm vụ: "Tham gia xây dựng, bảo vệ đường lối, chính sách về tổ chức của Đảng; phục tùng kỷ luật, giữ gìn đoàn kết, thống nhất trong Đảng; thường xuyên tự phê bình và phê bình, trung thực với Đảng; làm công tác phát triển đảng viên; sinh hoạt đảng và đóng đảng phí đúng quy định".

Khoản 1, Điều 8, Điều lệ Đảng khoá XI quy định: "Đảng viên bỏ sinh hoạt chi bộ hoặc không đóng đảng phí ba tháng trong năm mà không có lý do chính đáng; đảng viên giảm sút ý chí phấn đấu, không làm nhiệm vụ đảng viên, đã được chi bộ giáo dục mà không tiến bộ thì chi bộ xem xét, đề nghị lên cấp có thẩm quyền xoá tên trong danh sách đảng viên".

Tiết a, Điểm 9.3.1, Khoản 9.3, Điều 6, Quy định số 45-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng khóa XI quy định: "Đảng viên được cấp có thẩm quyền quyết định chuyển công tác sang một đơn vị mới, được nghỉ hưu, nghỉ mất sức, thôi việc, phục viên hoặc thay đổi nơi ở mới lâu dài thì phải làm thủ tục chuyển sinh hoạt đảng chính thức".

- Trường hợp hai đảng viên đã chuyển công tác nhưng không chuyển sinh hoạt về tổ chức đảng mới là vi phạm nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng. Một đảng viên còn lại bỏ sinh hoạt một năm là vi phạm kỷ luật đảng. Căn cứ vào các quy định trên, các đảng viên này phải được xem xét, xử lý bằng hình thức thích hợp tùy theo nội dung, tích chất, mức độ, tác hại và nguyên nhân vi phạm và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ.

- Chi bộ phân loại ba đảng viên này hoàn thành nhiệm vụ là vi phạm nghiêm trọng các quy định của Đảng, buông lỏng quản lý, bao che cho đảng viên vi phạm, cần phải xem xét trách nhiệm và xử lý nghiêm minh, trước hết là đối với chi uỷ và đồng chí bí thư chi bộ để giữ nghiêm kỷ luật của Đảng.

Câu hỏi 44: Đảng viên A vi phạm nguyên tắc tài chính gây thất thoát ngân sách xã. Căn cứ vào nội dung, tích chất mức độ, tác hại và nguyên nhân vi phạm và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, đảng uỷ xã đã quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo và buộc đảng viên A phải thu hồi tiền thất thoát nộp cho ngân sách xã. Song đến nay đã quá thời gian quy định thu hồi và các tổ chức đảng có thẩm quyền động viên, đôn đốc nhiều lần nhưng đảng viên A vẫn nhiều lần cố tình không thực hiện. Trường hợp này có xem xét kỷ luật tiếp không?

Trả lời:

Khoản 1, Điều 2, Điều lệ Đảng khóa XI quy định: Đảng viên phải: "Chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước; hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; phục tùng tuyệt đối sự phân công và điều động của Đảng".

Căn cứ vào quy định trên, đảng viên A mặc dù đã được các tổ chức đảng có thẩm quyền động viên, giáo dục nhiều lần nhưng vẫn cố tình không chấp hành nghiêm chỉnh quyết định của đảng uỷ xã là vi phạm kỷ luật của Đảng. Các tổ chức đảng có thẩm quyền cần xem xét cụ thể tính chất, mức độ tác hại, nguyên nhân để kết luận chính xác và có hình thức xử lý thích hợp đối với đảng viên A để giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Câu hỏi 45: Sau khi kết nạp Đảng được ba tháng, đồng chí X có vi phạm đến mức không còn đủ tư cách, phẩm chất của người đảng viên. Trường hợp này xử lý thế nào?

Trả lời:

Điểm 2.3, Khoản 2, Điều 35 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Đảng viên dự bị vi phạm đến mức phải kỷ luật thì kỷ luật khiển trách hoặc cảnh cáo và khi hết thời hạn dự bị, chi bộ vẫn tiến hành xét công nhận đảng viên chính thức. Nếu vi phạm đến mức không còn đủ tư cách đảng viên thì xoá tên trong danh sách đảng viên, không kỷ luật khai trừ".

Theo quy định trên, trường hợp như câu hỏi nêu trên thì đồng chí X vi phạm đến mức không còn đủ tư cách, phẩm chất của người đảng viên. Do đó, phải thực hiện việc xóa tên trong danh sách đảng viên, không thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ.

Câu hỏi 46: Đồng chí H là chi ủy viên vi phạm nghiêm trọng đến mức phải khai trừ ra khỏi Đảng, nhưng đồng chí H xin ra khỏi Đảng. Trường hợp này xử lý thế nào?

Trả lời:

Khoản 2, Điều 35 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:"Đảng viên chính thức vi phạm nghiêm trọng đến mức phải khai trừ thì phải kỷ luật khai trừ, không áp dụng biệt pháp xoá tên, không chấp nhận việc xin ra khỏi Đảng. Cấp uỷ viên vi phạm đến mức cách chức thì phải cách chức, không để thôi giữ chức".

Theo quy định trên, khi xem xét trường hợp đồng chí H, tổ chức đảng có thẩm quyền không chấp nhận cho đảng viên H xin ra khỏi Đảng, mà phải căn cử nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ để xem xét, kết luận, xử lý kỷ luật đối với đồng chí H bằng hình thức thích hợp để giữ nghiêm kỷ luật của Đảng.

Câu hỏi 47: Đồng chí M là ủy viên ủy ban kiểm tra đảng ủy xã (nhưng không phải là đảng ủy viên đảng ủy xã) có vi phạm kỷ luật về nhiệm vụ do cấp trên giao đến mức phải thi hành kỷ luật. Chi bộ nơi đồng chí M sinh hoạt đã xem xét, quyết định thi hành kỷ luật đồng chí M bằng hình thức khiển trách.

Chi bộ quyết định kỷ luật đồng chí M có đúng thẩm quyền không?

Trả lời:

Khoản 1, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:"Chi bộ quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm uỷ do cấp trên giao). Nhiệm vụ do cấp trên giao là công việc do tổ chức đảng cấp trên hoặc lãnh đạo cấp trên có thẩm quyền giao cho đảng viên.

Nếu phải xử lý kỷ luật cao hơn, chi bộ đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định".

Điểm 6.6, Khoản 6, Điều 36 trong Hướng dẫn này cũng quy định: "Việc kỷ luật đối với uỷ viên uỷ ban kiểm tra là cấp uỷ viên tiến hành như đối với cấp uỷ viên. Nếu uỷ viên uỷ ban kiểm tra không phải là cấp uỷ viên thì việc xử lý kỷ luật khiển trách, cảnh cáo thực hiện như đối với cán bộ do cấp uỷ cùng cấp quản lý; trường hợp kỷ luật cách chức, khai trừ do cấp uỷ cùng cấp quyết định".

Như vậy, theo các quy định trên thì đồng chí M vi phạm nhiệm vụ do cấp trên giao và đồng chí thuộc đảng uỷ xã quản lý, nên thẩm quyền kỷ luật đối với đồng chí M thuộc đảng uỷ xã. Chi bộ quyết định kỷ luật đồng chí M là không đúng thẩm quyền. Chi bộ chỉ có thẩm quyền biểu quyết đề nghị thi hành kỷ luật đối với đồng chí M và báo cáo đề nghị đảng ủy xã xem xét, quyết định kỷ luật theo thẩm quyền.

Câu hỏi 48: Đồng chí H là đảng viên không giữ chức  vụ và không thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý có vi phạm. Chi bộ nơi đồng chí H sinh hoạt đã tiến hành xem xét và biểu quyết (bằng phiếu kín) nhất trí thi hành kỷ luật đồng chí H bằng hình thức khiển trách. Sau đó, chi bộ báo cáo và được đảng ủy cơ sở quyết định thi hành kỷ luật khiển trách đồng chí H. Việc làm đó có đúng và cần thiết không?

Trả lời:

Khoản 1, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:"Chi bộ quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp trên giao). Nhiệm vụ do cấp trên giao là công việc do tổ chức đảng cấp trên hoặc lãnh đạo cấp trên có thẩm quyền giao cho đảng viên.

Nếu phải xử lý kỷ luật cao hơn, chi bộ đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định".

Điểm 6.1, Khoản 6, Điều 39 trong Hướng dẫn này quy định: "Quyết định khiển trách, cảnh cáo đối với đảng viên của chi bộ có hiệu lực ngay sau khi chi bộ công bố kết quả biểu quyết quyết định kỷ luật. Trong vòng 10 ngày, chi uỷ làm văn bản báo cáo cấp trên và lưu hồ sơ. Văn bản của chi bộ (trong đảng bộ bộ phận, trong đảng bộ cơ sở) được đóng dấu của đảng uỷ cơ sở vào phía trên, góc trái. Đảng uỷ cơ sở hoặc cấp uỷ cấp trên trực tiếp không phải ra quyết định chuẩn y".

Căn cứ vào các quy định trong Hướng dẫn trên thì biểu quyết quyết định kỷ luật của chi bộ đối với đồng chí H đã có hiệu lực thi hành, không cần phải có sự chuẩn y của đảng ủy cơ sở. Quyết định kỷ luật của chi bộ đối với đảng viên vi phạm được đóng dấu của đảng ủy cơ sở vào phía trên, góc trái. Trường hợp này, đảng ủy cơ sở không phải ra quyết định kỷ luật đối với đồng chí H.

Câu hỏi 49: Một đảng viên là phó bí thư chi bộ thuộc đảng bộ cơ sở có vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật, ủy ban kiểm tra của đảng ủy cơ sở đã quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo. Quyết định đó đúng hay sai?

Trả lời:

Điều 36, Điều lệ Đảng khóa XI quy định các tổ chức đảng sau đây có thẩm quyền thi hành kỷ luật đảng viên: Chi bộ, ban chấp hành đảng bộ các cấp (trừ chi ủy và đảng bộ bộ phận) và ban thường vụ của ban chấp hành đảng bộ từ cấp trên cơ sở trở lên trở lên; ủy ban kiểm tra từ cấp huyện, quận và tương đương trở lên.

Ngoài các tổ chức đảng trên, các tổ chức khác (chi uỷ, đảng ủy bộ phận, ban thường vụ đảng uỷ cơ sở, uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở, ban cán sự đảng, đảng đoàn, các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy) không có thẩm quyền thi hành kỷ luật mà chỉ có quyền báo cáo và kiến nghị với cấp ủy có thẩm quyền thi hành kỷ luật đối với đảng viên và tổ chức đảng hoạt động trong lĩnh vực mình phụ trách.

- Điểm 4.1, Khoản 4, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở không có thẩm quyền kỷ luật đảng viên nhưng có trách nhiệm xem xét, kết luận, đề xuất đảng uỷ cơ sở và uỷ ban kiểm tra cấp trên xem xét, quyết định".

Căn cứ vào quy định trên thì việc ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở quyết định thi hành uỷ luật đối với đồng chí phó bí thư chi bộ là sai vì không có thẩm quyền. Trường hợp này ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở phải báo cáo đề nghị đảng ủy cơ sở xem xét, quyết định.

Câu hỏi 50: Đảng viên X có vi phạm trong việc lấn chiếm đất đai, mặc dù đã được giáo dục nhưng không sửa chữa. Căn cứ vào nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm và tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, ủy ban kiểm tra đảng ủy xã đã quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với đảng viên X. Việc thi hành kỷ luật đảng viên của ủy ban kiểm tra đảng ủy xã có đúng thẩm quyền không?

Trả lời:

Điểm 4.1, Khoản 4, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở không có thẩm quyền kỷ luật đảng viên nhưng có trách nhiệm xem xét, kết luận, đề xuất đảng uỷ cơ sở và uỷ ban kiểm tra cấp trên xem xét, quyết định".

Như vậy, việc uỷ ban kiểm tra đảng uỷ xã thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với đảng viên X là không đúng thẩm quyền theo quy định của Điều lệ Đảng. Tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền phải xem xét trách nhiệm của ủy ban kiểm tra đảng ủy xã.

Câu hỏi 51: Khoản 1, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Đối với cấp uỷ viên các cấp sinh hoạt tại chi bộ, từ cấp uỷ viên đảng uỷ cơ sở cho đến Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương và cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý, nếu vi phạm nhiệm vụ do cấp trên giao (nhiệm vụ do cấp uỷ giao hoặc nhiệm vụ chuyên môn được giao) phải áp dụng hình thức kỷ luật từ khiển trách trở lên thì chi bộ đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định".

Nhưng Hướng dẫn này lại quy định: "Chi bộ quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp trên giao)".

Vậy có mâu thuẫn không?

Trả lời:

Theo các quy định trên thì đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp trên giao) thì chi bộ có thẩm quyền thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách hoặc cảnh cáo. Nếu vi phạm phải xử lý kỷ luật bằng các hình thức cách chức, khai trừ thì không thuộc thẩm quyền của chi bộ, do vậy, chi bộ phải đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Nhưng đối với vi phạm nhiệm vụ do cấp trên giao thì chi bộ không có thẩm quyền xử lý kỷ luật từ hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo trở lên đối với cấp ủy viên các cấp và cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý. Do đó chi bộ phải đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. Do đó, các quy định trên trong Hướng dẫn không có sự mâu thuẫn.

Câu hỏi 52: Đảng viên T là cán bộ thuộc diện đảng ủy cơ sở quản lý, vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật. Việc xem xét, xử lý kỷ luật đối với đồng chí T được tiến hành từ chi bộ đến đảng ủy cơ sở đúng quy trình theo hướng dẫn của Trung ương.

Căn cứ vào nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm, đảng ủy cơ sở biểu quyết đề nghị ủy ban kiểm tra huyện ủy thi hành kỷ luật đối với đồng chí T bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng.

Sau khi nghe đồng chí T trình bày, ủy ban kiểm tra huyện ủy xem xét và quyết định kỷ luật đồng chí T bằng hình thức khai trừ và đã công bố quyết định, sau đó, đồng chí T có đơn khiếu nại kỷ luật gửi ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, tiếp đó, lại gửi đơn khiếu nại lên ban thường vụ tỉnh ủy.

Vậy, quá trình xem xét, thi hành kỷ luật như trên có đúng với quy định của Điều lệ Đảng và Hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương không? Việc khiếu nại kỷ luật của đồng chí T có đúng không và có phải giải quyết không?

Trả lời:

Điểm 4.2, Khoản 4, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Uỷ ban kiểm tra cấp uỷ huyện, quận và tương đương quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp uỷ viên cơ sở và cán bộ thuộc diện cấp uỷ cùng cấp quản lý nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp; quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả bí thư, phó bí thư, cấp uỷ viên của chi bộ, đảng uỷ bộ phận trực thuộc đảng bộ cơ sở hoặc cán bộ thuộc diện đảng uỷ cơ sở quản lý nhưng không phải là đảng uỷ viên đảng uỷ cơ sở hay cán bộ do cấp uỷ huyện, quận và tương đương quản lý.

Điểm 7.1, Khoản 7, Điều 39 Hướng dẫn trên quy định: "Việc giải quyết khiếu nại về kỷ luật đảng được tiến hành từ uỷ ban kiểm tra hoặc cấp uỷ cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng đã quyết định thi hành kỷ luật. Sau khi được giải quyết, nếu đảng viên hoặc tổ chức đảng bị thi hành kỷ luật không đồng ý, có khiếu nại tiếp thì tổ chức đảng cấp trên tiếp tục giải quyết cho đến Bộ Chính trị hoặc Ban Chấp hành Trung ương".

Như vậy, theo các quy định trên, quá trình xem xét thi hành kỷ luật của ủy ban kiểm tra huyện ủy đối với đảng viên T là đúng quy định của Điều lệ Đảng và Hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương về nguyên tắc, quy trình, thủ tục thẩm quyền.

Trường hợp như câu hỏi nêu, sau khi ủy ban kiểm tra huyện ủy quyết định kỷ luật, đảng viên T không đồng ý, gửi đơn khiếu nại kỷ luật lên ủy ban kiểm tra tỉnh ủy và tiếp đó lại gửi đơn khiếu nại lên ban thường vụ tỉnh ủy là không đúng quy định của Đảng. Bởi vì, theo quy định, nếu đảng viên T không đồng ý với quyết định kỷ luật của ủy ban kiểm ra huyện ủy thì phải gửi đơn khiếu nại lên ban thường vụ huyện ủy, sau khi ban thường vụ huyện ủy giải quyết khiếu nại, nếu đảng viên T vẫn không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của ban thường vụ huyện ủy đối với mình thì phải gửi đơn khiếu nại kỷ luật đến ban chấp hành đảng bộ huyện. Việc khiếu nại của đảng viên T là không đúng quy định của Điều lệ Đảng, ủy ban kiểm tra tỉnh ủy và ban thường vụ tỉnh ủy phải chuyển đơn khiếu nại về ban thường vụ huyện ủy để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền, đồng thời thông báo cho đảng viên T biết bằng văn bản.

Câu hỏi 53: Đảng viên B là phó chủ tịch ủy ban nhân dân xã vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật. Căn cứ vào nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, ban chấp hành đảng bộ xã đã đề nghị ban thường vụ huyện ủy thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ. Sau khi được ban thường vụ huyện ủy giao, ủy ban kiểm tra huyện ủy đã xem xét, quyết định thi hành kỷ luật đảng viên B bằng hình thức khiển trách.

Đảng viên B không khiếu nại, nhưng ban chấp hành đảng bộ xã cho rằng với hình thức kỷ luật khiển trách là quá nhẹ. Mặc dù vẫn nghiêm chỉnh chấp hành quyết định của ủy ban kiểm tra huyện ủy, nhưng ban chấp hành đảng bộ xã có đơn kiến nghị ban thường vụ huyện ủy xem xét lại.

Trường hợp này, ban thường vụ huyện ủy có xem xét không?

Trả lời:

Điểm 5.3, Khoản 5, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên khi phát hiện đảng viên là cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiệm nhiệm vụ đảng viên, phải chỉ đạo tổ chức đảng cấp dưới, trước hết là chi bộ xem xét, xử lý kỷ luật theo thẩm quyền. Trường hợp tổ chức đảng cấp dưới không xem xét, xử lý hoặc xử lý không đúng mức thì tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên xem xét, xử lý; đồng thời xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng cấp dưới và người đứng đầu tổ chức đảng đó".

Điểm 2.1, Khoản 2, Điều 38 trong Hướng dẫn trên quy định: "Trường hợp vi phạm đếm mức phải xử lý kỷ luật nhưng tổ chức đảng cấp dưới không xử lý hoặc xử lý không đúng mức thì cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra cấp trên trực tiếp quyết định xem xét, xử lý kỷ luật theo thẩm quyền, không phải làm thủ tục từ dưới lên".

Theo các quy định trên, trường hợp ban chấp hành đảng bộ xã thấy kỷ luật đối với đồng chí B là quá nhẹ, có kiến nghị với ban thường vụ huyện ủy về quyết định kỷ luật của ủy ban kiểm ra huyện ủy, thì ban thường vụ huyện ủy cần phải xem xét, nếu thấy quyết định của uỷ ban kiểm tra huyện uỷ không đúng mức thì ban thường vụ huyện uỷ xem xét, quyết định kỷ luật đối với đảng viên B theo thẩm quyền và không phải làm thủ tục tử dưới lên.

Câu hỏi 54: Đồng chí A là ủy viên ủy ban kiểm tra đảng ủy xã, nhưng không phải là đảng ủy viên, vi phạm đến mức phải cách chức ủy viên ủy ban kiểm tra đảng ủy xã.

Trường hợp này tổ chức đảng nào có quyền quyết định cách chức?

Trả lời:

Điểm 6.6, Khoản 6, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Việc kỷ luật đối với uỷ viên uỷ ban kiểm tra là cấp uỷ viên thì việc kỷ luật khiển trách, cảnh cáo tiến hành như đối với cấp uỷ viên.  Nếu uỷ viên uỷ ban kiểm tra không phải là cấp uỷ viên thì việc kỷ luật khiển trách, cảnh cáo tiến hành như đối với cán bộ do cấp uỷ cùng cấp quản lý; trường hợp kỷ luật cách chức, khai trừ do cấp uỷ cùng cấp quyết định".

Căn cứ vào quy định trên, đồng chí A là ủy viên ủy ban kiểm tra đảng ủy (không phải là cấp ủy viên) nhưng là cán bộ do đảng ủy xã quản lý nếu vi phạm phải thi hành kỷ luật từ khiển trách đến khai trừ thì do ban chấp hành đảng bộ xã quyết định.

Câu hỏi 55: Đồng chí M là cán bộ cấp trên sinh hoạt tại chi bộ, có vi phạm kỷ luật đảng về phẩm chất đạo đức, lối sống đến mức phải xử lý kỷ luật thuộc thẩm quyền của chi bộ. Chi bộ đã họp xem xét và quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách đối với đồng chí M, nhưng không báo cáo tổ chức đảng cấp trên quản lý đồng chí này. Việc làm đó của chi bộ đúng hay sai?

Trả lời:

Khoản 1, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:"Quyết định kỷ luật khiển trách, cảnh cáo của chi bộ đối với cấp uỷ viên các cấp, cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý phải báo cáo lên các cấp uỷ mà đảng viên đó là thành viên và cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra của cấp uỷ quản lý cán bộ đó".

Như vậy, theo quy định trên, việc chi bộ quyết định kỷ luật đồng chí M là cán bộ cấp trên sinh hoạt tại chi bộ mà không báo cáo tổ chức đảng cấp trên quản lý đồng chí M là không đúng quy định của Đảng. Tổ chức đảng có thẩm quyền chỉ đạo chi bộ phải thực hiện nghiêm túc việc báo cáo kết quả thi hành kỷ luật đối với đồng chí M lên tổ chức đảng và cấp ủy ủy ban kiểm tra quản lý đảng viên M; đồng thời kiểm điểm rút kinh nghiệm về việc thi hành kỷ luật trong trường hợp nêu trên.

Câu hỏi 56: Một đồng chí là đảng ủy viên đảng ủy cơ sở kiêm bí thư chi bộ vi phạm kỷ luật đến mức phải thi hành kỷ luật bằng hình thức cách chức chi ủy viên thì đảng ủy cơ sở có quyền quyết định hay phải đề nghị lên cấp ủy cấp trên xem xét, quyết định?

Trả lời:

Khoản 1, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm ra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:

"Đảng uỷ cơ sở quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong đảng bộ, cách chức cấp uỷ viên cấp dưới".

Quyết định cách chức bí thư, phó bí thư, cấp uỷ viên của chi bộ hoặc đảng uỷ bộ phận trực thuộc nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp hoặc cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý".

Như vậy theo quy định trên, đồng chí M là đảng ủy viên đảng ủy cơ sở kiêm bí thư chi bộ (trực thuộc đảng ủy) vi phạm kỷ luật đến mức phải cách chức chi ủy viên thì đảng ủy cơ sở đề nghị ban thường vụ quận, huyện ủy hoặc tương đương xem xét, quyết định lý luật theo thẩm quyền.

Lưu ý: Điểm 6.2, Khoản 1, Điều 36 Hướng dẫn trên quy định: "Đảng viên tham gia nhiều cấp uỷ… Nếu phải cách chức cấp uỷ viên ở một cấp uỷ cấp dưới thì do ban thường vụ cấp uỷ quản lý đảng viên đó quyết định". Nhưng vì ban thường vụ đảng ủy cơ sở không có thẩm quyền thi hành kỷ luật nên quy định trên chỉ áp dụng cho đảng viên giữ nhiều chức vụ, tham gia nhiều cấp ủy thuộc diện huyện, quận ủy hoặc tương đương trở lên.

Câu hỏi 57: Đồng chí X là đảng viên dự bị phạm tội buôn bán ma túy, bị cơ quan pháp luật bắt tạm giam. Tại chi bộ nơi đảng viên dự bị sinh hoạt có hai loại ý kiến:

- Ý kiến thứ nhất: Ra quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng đối với đảng viên dự bị, sau khi tòa án xét xử mới xem xét kỷ luật đảng.

- Ý kiến thứ hai: Ra quyết định xóa tên (theo hướng dẫn tại Điều 35 Điều lệ Đảng, đồng chí này đã không đủ tư cách đảng viên).

Ý kiến nào đúng?

Trả lời:

Điểm 1, Điều 40 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:

"Khi cơ quan có thẩm quyền bắt, khám xét khẩn cấp đối với công dân là đảng viên thì tổ chức đảng hoặc đảng viên là thủ trưởng của cơ quan đó có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho tổ chức đảng trực tiếp quản lý đảng viên đó biết.

Đảng viên bị khởi tố, truy tố hoặc bị tạm giam, nếu tổ chức đảng có thẩm quyền kết luận rõ đảng viên có vi phạm đến mức phải xử lý thì chủ động xem xét, xử lý kỷ luật đảng, không nhất thiết chờ kết luận hoặc tuyên án của toà án có thẩm quyền, không cần quyết định cho đảng viên, cấp uỷ viên trở lại sinh hoạt mới xem xét, xử lý kỷ luật. Sau khi có bản án hoặc quyết định của toà án, nếu thấy cần thiết, tổ chức đảng có thẩm quyền kỷ luật xem xét lại việc kỷ luật đảng đối với đảng viên đó.

Trường hợp bị toà án có thẩm quyền tuyên phạt từ hình phạt cải tạo không giam giữ trở lên, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thì tổ chức đảng có thẩm quyền căn cứ bản án của toà án để quyết định khai trừ (đối với đảng viên chính thức) hoặc xoá tên trong danh sách đảng viên (đối với đảng viên dự bị), không phải theo quy trình thi hành kỷ luật. Tổ chức đảng có thẩm quyền quyết định khai trừ đảng viên thông báo bằng văn bản cho chi bộ nơi đảng viên sinh hoạt và các tổ chức đảng nơi đảng viên đó là thành viên".

Như vậy, căn cứ quy định trên, trường hợp như câu hỏi nêu thì tổ chức đảng có thẩm quyền phải ra quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng đối với đảng viên X để phục vụ điều tra. Trong thời gian bị đình chỉ sinh hoạt, nếu tổ chức đảng có thẩm quyền kết luận rõ ràng đảng viên vi phạm đến mức phải xử lý thì phải chủ động xem xét, xử lý kỷ luật đảng, không nhất thiết phải chờ kết luận hoặc tuyên phạt của tòa án có thẩm quyền. Nếu chưa đủ cơ sở để xem xét, xử lý kỷ luật thì để lại sau khi có bản án hoặc quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật mới tiến hành xem xét, xử lý kỷ luật hoặc xóa tên trong danh sách đảng viên đối với đảng viên X.

Cả hai ý kiến trên đều chưa chính xác.

Câu hỏi 58: Việc chi bộ thi hành kỷ luật khiển trách, cảnh cáo có hiệu lực ngay sau khi có kết quả bỏ phiếu biểu quyết quyết định kỷ luật nhưng lại cho phép trong vòng 10 ngày, chi bộ làm văn bảo báo cáo cấp trên. Như vậy, đảng viên muốn khiếu nại được tính từ ngày nào? Vì muốn khiếu nại phải có văn bản?

Trả lời:

Điểm 6, Điều 39 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:

"Kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm có hiệu lực ngay sau khi công bố quyết định.

Quyết định khiển trách, cảnh cáo đối với đảng viên của chi bộ có hiệu lực ngay sau khi chi bộ công bố kết quả biểu quyết quyết định kỷ luật. Trong vòng 10 ngày, chi uỷ làm văn bản báo cáo cấp trên và lưu hồ sơ. Văn bản của chi bộ (trong đảng bộ bộ phận, trong đảng bộ cơ sở) được đóng dấu của đảng uỷ cơ sở vào phía trên, góc trái. Đảng uỷ cơ sở hoặc cấp uỷ cấp trên trực tiếp không phải ra quyết định chuẩn y".

Như vậy, theo quy định trên, việc thi hành kỷ luật của chi bộ đối với đảng viên vi phạm có hiệu lực ngay sau khi chi bộ công bố kết quả bỏ phiếu quyết định kỷ luật. Đảng viên có quyền khiếu nại ngay sau khi chi bộ công bố kết qua biểu quyết kỷ luật đối với mình (kể cả khi chưa nhận được quyết định kỷ luật bằng văn bản của chi bộ). Trong quyết định thi hành kỷ luật của chi bộ đối với đảng viên vi phạm vẫn ghi quyết định có hiệu lực tính từ ngày chi bộ công bố quyết định biểu quyết kỷ luật, còn ngày chi bộ ký ban hành quyết định kỷ luật có thể là cùng ngày hoặc sau ngày chi bộ công bố quyết định biểu quyết kỷ luật đối với đảng viên. Sau khi đóng dấu của đảng ủy cơ sở vào phía trên, góc trái, chi bộ trao quyết định cho đảng viên để đảng viên chấp hành và có căn cứ, cơ sở thực hiện quyền khiếu nại của mình.

Câu hỏi 59: Tại cuộc họp chi bộ xem xét thi hành kỷ luật những đảng viên vi phạm kỷ luật của Đảng, sau khi nghe các đảng viên vi phạm báo cáo sự kiểm điểm và phân tích của chi bộ, việc biểu quyết kỷ luật bằng phiếu kín được tiến hành như sau:

Chi ủy phát cho mỗi đảng viên một lá phiếu, trong đó cột thứ nhất ghi tên 5 đảng viên (có một cấp ủy viên), các cột tiếp theo ghi: Không kỷ luật, khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ. Tán thành hoặc không tán thành áp dụng hình thức kỷ luật nào đối với 5 đảng viên trên thì đánh dấu "X" vào ô tương ứng trong phiếu, rồi bỏ vào thùng phiếu. Việc làm đó có sai không?

Trả lời:

Điểm 1.2, Khoản 1 Điều 38 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Việc biểu quyết đề nghị kỷ luật hoặc biểu quyết quyết định kỷ luật phải bằng phiến kín. Sau khi xem xét, kết luận, tổ chức đảng phải biểu quyết bằng phiếu kín việc có kỷ luật hay không kỷ luật. Nếu kết quả biểu quyết không kỷ luật thì phải báo cáo tổ chức đảng cấp trên. Trường hợp kết quả biểu quyết đến mức phải kỷ luật thì bỏ phiếu quyết định hình thức kỷ luật cụ thể".

Theo quy định trên thì chi bộ phát biểu quyết bằng phiếu kín việc có kỷ luật hay không kỷ luật trước đối với từng đảng viên. Nếu có kết quả bỏ phiếu biểu quyết kỷ luật thì sau đó mới bỏ phiếu lần thứ hai biểu quyết quyết định hình thức kỷ luật cụ thể đối với từng đảng viên vi phạm để bảo đảm nguyên tắc, quy trình, thủ tục trong xem xét, xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm trong phiếu biểu quyết quyết định hình thức kỷ luật cụ thể có bốn ô (khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ). Như vậy việc làm trên của chi bộ như câu hỏi nêu là sai quy định của Đảng.

Câu hỏi 60: Chi bộ có 12 đảng viên nên mọi người đều biết rõ nét chữ của nhau. Trong hội nghị chi bộ xem xét kỷ luật đảng viên, khi bỏ phiếu, đồng chí chủ trì yêu cầu mọi người phải tự viết vào phiếu. Do đó, có đảng viên đề nghị thực hiện đúng cách bỏ phiếu kín, đồng chí chủ trì không đồng ý. Vậy, cách nào đúng?

Trả lời:

Điểm 1.2, Khoản 1, Điều 38 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm ra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Việc biểu quyết đề nghị kỷ luật hoặc biểu quyết quyết định kỷ luật phải bằng phiếu kín. Sau khi xem xét, kết luận, tổ chức đảng phải biểu quyết bằng phiếu kín việc có kỷ luật hay không kỷ luật. Nếu kết quả biểu quyết không kỷ luật thì phải báo cáo tổ chức đảng cấp trên. Trường hợp kết quả biểu quyết đến mức phải kỷ luật thì bỏ phiếu quyết định hình thức kỷ luật cụ thể. Trường hợp biểu quyết không có hình thức kỷ luật nào có đủ đa số phiếu theo quy định thì báo cáo đầy đủ hồ sơ để tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết định. Quyết định của cấp có thẩm quyền phải được chấp hành nghiêm chỉnh".

Phiếu biểu quyết đề nghị thi hành kỷ luật đảng viên phải là phiếu đánh máy, in ghi rõ họ và tên, chức vụ của đảng viên và những yêu cầu cần biểu quyết (nơi không có điều kiện đánh máy, in phiếu, chi ủy cử một người viết đầy đủ những nội dung cần biểu quyết vào phiếu), đóng dấu cấp ủy ở góc trái phía trên của phiếu biểu quyết (chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở thì đóng dấu của đảng ủy cơ sở). Phiếu kín là phiếu không để lại dấu hiệu riêng, tiết lộ danh tính người bỏ phiếu (trừ trường hợp người bỏ phiếu không yêu cầu). Vì vậy, phiếu phải được tổ chức đảng có thẩm quyền phát ra, mọi yêu cầu chữ viết, ký hiệu ghi chú cho tất cả các phiếu phải giống nhau (do đánh máy, in hoặc do một người viết), không có dấu hiệu riêng, người bỏ phiếu chỉ đánh dấu "X" hoặc "+" vào phiếu là đủ.

Mục đích của việc quy định này là bảo đảm dân chủ thực sự, người bỏ phiếu được bày tỏ chân thực chính kiến của mình, không bị tác động bởi bất kỳ nguyên nhân nào. Những cách làm không đạt yêu cầu trên là không đúng quy định cần được chấn chỉnh khắc phục kịp thời.

Câu hỏi 61: Ban Chấp hành Trung ương hướng dẫn việc biểu quyết kỷ luật phải được thực hiện bằng phiếu kín. Nhưng ủy ban kiểm tra cấp trên của chúng tôi lại hướng dẫn: Ở chi bộ thực hiện đúng như trên, còn từ đảng ủy cơ sở trở lên, nếu chưa có sự nhất trí cao thì biểu quyết bằng phiếu kín, nếu ý kiến đã tập trung thống nhất tuyệt đối thì không nhất thiết biểu quyết bằng phiếu kín và khi báo cáo lên trên phải báo cáo rõ vấn đề này. Hướng dẫn như vậy có đúng không?

Trả lời:

- Điểm 1.2, Khoản 1, Điều 38 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII, Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Việc biểu quyết đề nghị kỷ luật hoặc biểu quyết quyết định kỷ luật phải thực hiện bằng phiếu kín".

 - Trường hợp như câu hỏi nêu là không đúng với hướng dẫn trên, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ được quy định tại Điều 9, Điều lệ Đảng khóa XI.

Việc quy định biểu quyết đề nghị kỷ luật hoặc biểu quyết quyết định kỷ luật phải bằng phiếu kín là nhằm bảo đảm dân chủ thực sự trong thi hành kỷ luật đối với tổ chức Đảng và đảng viên vi phạm. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc phải được thực hiện nghiêm chỉnh ở tất cả các tổ chức trong toàn Đảng, không có ngoại lệ. Uỷ ban kiểm tra đã tự ý hướng dẫn như trên cần nghiêm túc tự kiểm điểm rút kinh nghiệm và hướng dẫn lại cho đúng với quy định của Điều lệ Đảng, quy định của Ban Chấp hành Trung ương.

Câu hỏi 62: Chi bộ họp có 12/13 đảng viên chính thức để xem xét đề nghị xử lý kỷ luật một đồng chí chi ủy viên. Kết quả bỏ phiếu đề nghị kỷ luật như sau: 1 phiếu đề nghị khiển trách, 2 phiếu đề nghị cảnh cáo, 5 phiếu đề nghị cách chức chi ủy viên, 2 phiếu đề nghị khai trừ, có 1 phiếu đề nghị cả hai hình thức: khiển trách và cảnh cáo, 1 phiếu đề nghị cả ba hình thức: cảnh cáo, cách chức, khai trừ.

Xử lý trường hợp này như thế nào?

Trả lời:

Điểm 1.2, Khoản 1, Điều 38 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng trong Chương VII, Chương VIII, Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Trường hợp biểu quyết không có hình thức kỷ luật nào có đủ đa số phiếu theo quy định thì báo cáo đầy đủ hồ sơ để tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết định. Quyết định của cấp có thẩm quyền phải được chấp hành nghiêm chỉnh".

- Căn cứ quy định trên, trường hợp như câu hỏi nêu thì trong tổng số phiếu biểu quyết có 1 phiếu đề nghị hai hình thức kỷ luật và 1 phiếu đề nghị ba hình thức kỷ luật là không hợp lệ; số phiếu còn lại phân tán, nên không có hình thức kỷ luật nào có đủ đa số phiếu theo quy định để thi hành kỷ luật.

Như vậy, trường hợp này chi bộ phải báo cáo bằng văn bản kết quả biểu quyết đề nghị kỷ luật bằng phiếu kín và hồ sơ lên đảng ủy cơ sở để xem xét, quyết định theo thẩm quyền.

Câu hỏi 63: Đảng viên M vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật. Chi bộ yêu cầu đảng viên M phải kiểm điểm trước chi bộ về vi phạm của mình, nhưng đảng viên M từ chối không kiểm điểm. Trường hợp này xử lý như thế nào?

Trả lời:

Khoản 1, Điều 39, Điều lệ Đảng khóa XI quy định: "Đảng viên vi phạm kỷ luật phải kiểm điểm trước chi bộ, tự nhận hình thức kỷ luật; nếu từ chối kiểm điểm hoặc bị tạm giam, tổ chức đảng vẫn tiến hành xem xét kỷ luật. Trường hợp cần thiết, cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra cấp có thẩm quyền trực tiếp xem xét kỷ luật".

Điểm 1.1, Khoản 1, Điều 39 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng trong Chương VII, Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:"Cấp uỷ hướng dẫn đảng viên vi phạm kỷ luật chuẩn bị bản tự kiểm điểm. Hội nghị chi bộ thảo luận, góp ý và kết luận rõ nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm và biểu quyết (đề nghị hoặc quyết định) kỷ luật… Trường hợp có đầy đủ bằng chứng, nếu đảng viên vi phạm từ chối kiểm điểm hoặc bị tạm giam thì tổ chức đảng vẫn tiến hành xem xét, kỷ luật".

Căn cứ vào các quy định trên, trường hợp câu hỏi nêu, nếu đảng viên M từ chối kiểm điểm trước chi bộ thì chi bộ, cấp uỷ hoặc ủy ban kiểm tra có thẩm quyền vẫn tiến hành xem xét, thi hành kỷ luật theo quy định. Trong biên bản hội nghị chi bộ xét kỷ luật phải ghi rõ lý do đảng viên M không kiểm điểm.

Câu hỏi 64: Đảng viên chính thức có vi phạm, bị cơ quan pháp luật khởi tố bị can, nhưng cho tại ngoại. Theo quy định của Đảng thì khi chưa bị đình chỉ sinh hoạt đảng, đảng viên có vi phạm vẫn được đến dự hội nghị chi bộ để xét kỷ luật đối với mình. Việc xác định tổng số đảng viên để tính kết quả biểu quyết quyết định kỷ luật hoặc đề nghị thi hành kỷ luật có tính đảng viên đó không?

Trả lời:

Khoản 3, Điều 38 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:

"3- Kỷ luật giải tán một tổ chức đảng và khai trừ đảng viên phải được ít nhất hai phần ba số thành viên của tổ chức đảng cấp dưới đề nghị và do tổ chức đảng có thẩm quyền quyết định.

3.1- Quyết định kỷ luật hoặc đề nghị kỷ luật khiển trách, cảnh cáo, cách chức đối với đảng viên, khiển trách, cảnh cáo đối với tổ chức đảng phải được biểu quyết với sự đồng ý của trên một nửa số đảng viên hoặc thành viên của tổ chức đảng đó".

"Một nửa hay hai phần ba quy định ở trên được tính trên tổng số thành viên có quyền biểu quyết của tổ chức đảng (ở chi bộ là số đảng viên chính thức, trừ số đảng viên được miễn sinh hoạt không có mặt tại cuộc họp; ở cấp uỷ là tổng số cấp uỷ viên), không tính trên số lượng thành viên có mặt trong cuộc họp".

Như vậy, theo quy định trên, đảng viên chính thức bị khởi tố nhưng không bị tạm giam, chưa bị đình chỉ sinh hoạt đảng được quyền đến dự hội nghị của chi bộ để xét kỷ luật đối với đảng viên đó và được tính vào tổng số thành viên có quyền biểu quyết quyết định kỷ luật hoặc đề nghị kỷ luật.

Câu hỏi 65: Đảng viên X chuyển sinh hoạt đảng tạm thời đến chi bộ mới có quyền biểu quyết kỷ luật đối với đảng viên như đảng viên khác trong chi bộ đó không? Ở chi bộ có hai loại ý kiến:

- Ý kiến thứ nhất: Đảng viên chuyển sinh hoạt đảng tạm thời không được quyền biểu quyết kỷ luật đối với đảng viên.

- Ý kiến thứ hai: Đảng viên chuyển sinh hoạt đảng tạm thời được biểu quyết kỷ luật đối với đảng viên.

Ý kiến nào đúng?

Trả lời:

- Tiết b, Điểm 13.3.2, Mục 13, Quy định số 45-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương về quy định thi hành Điều lệ Đảng khóa XI quy định: "Đảng viên sinh hoạt đảng tạm thời có nhiệm vụ và quyền hạn: ở nơi sinh hoạt chính thức thì thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ theo quy định tại Điều 2 và các quyền ghi tại Điều 3 của Điều lệ Đảng; ở nơi sinh hoạt tạm thời thì trừ quyền biểu quyết, ứng cử và bầu cử".

- Theo quy định trên, đảng viên X chuyển sinh hoạt đảng tạm thời đến chi bộ mới không được quyền biểu quyết kỷ luật đảng viên vi phạm như các đảng viên chính thức khác trong chi bộ đó. Như vậy, ý kiến thứ nhất đúng.

Câu hỏi 66: Chi bộ có quyền thi hành kỷ luật khiển trách, cảnh cáo cấp ủy viên cấp trên sinh hoạt tại chi bộ hay không?

Trả lời:

Khoản 1, Điều 36, Điều lệ Đảng khóa XI quy định: "Chi bộ quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp trên giao").

Khoản 1, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:"Quyết định kỷ luật khiển trách, cảnh cáo của chi bộ đối với cấp uỷ viên các cấp, cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý phải báo cáo lên các cấp uỷ mà đảng viên đó là thành viên và cấp ủy, uỷ ban kiểm tra của cấp quản lý cán bộ đó".

Như vậy, chi bộ có quyền thi hành kỷ luật khiển trách, cảnh cáo cấp ủy viên cấp trên sinh hoạt tại chi bộ nếu vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên. Trường hợp cấp ủy viên các cấp vi phạm cả về phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên, cả nhiệm vụ do cấp trên giao thì chi bộ phải báo cáo tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét, xử lý kỷ luật đối với cấp ủy viên đó.

Câu hỏi 67: Một đảng viên vi phạm kỷ luật đảng. Khi chi bộ họp bàn việc thi hành kỷ luật có 9/11 đảng viên chính thức dự họp. Chi bộ biểu quyết bằng cách giơ tay có 5/9 đảng viên chính thức dự họp đồng ý hình thức kỷ luật cảnh cáo.

Trường hợp này xử lý như thế nào?

Trả lời:

Điểm 1.2, Khoản 1, Điều 38 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Việc biểu quyết đề nghị kỷ luật hoặc biểu quyết quyết định kỷ luật phải bằng phiếu kín. Sau khi xem xét, kết luận, tổ chức đảng phải biểu quyết bằng phiếu kín việc có kỷ luật hay không kỷ luật. Nếu kết quả biểu quyết không kỷ luật thì phải báo cáo tổ chức đảng cấp trên. Trường hợp kết quả biểu quyết đến mức phải kỷ luật thì bỏ phiếu quyết định hình thức kỷ luật cụ thể. Trường hợp biểu quyết không có hình thức kỷ luật nào có đủ đa số phiếu theo quy định thì báo cáo đầy đủ hồ sơ để tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết định. Quyết định của cấp có thẩm quyền phải được chấp hành nghiêm chỉnh.

Điểm 3.1, Khoản 3, Điều 38 Hướng dẫn trên quy định: "Quyết định kỷ luật hoặc đề nghị kỷ luật khiển trách cảnh cáo, cách chức đối với đảng viên, khiển trách, cảnh cáo đối với tổ chức đảng phải được biểu quyết với sự đồng ý của trên một nửa số đảng viên hoặc thành viên của tổ chức đó.

Một nửa hay hai phần ba quy định ở trên được tính trên tổng số thành viên có quyền biểu quyết của tổ chức đảng (ở chi bộ là số đảng viên chính thức, trừ số đảng viên được miễn sinh hoạt không có mặt tại cuộc họp; ở cấp uỷ là tổng số cấp ủy viên), không tính trên số thành viên có mặt trong cuộc họp".

Theo các quy định trên, trường hợp như câu hỏi nêu thì khi chi bộ họp bàn việc thi hành kỷ luật đảng viên, có 9/11 đảng viên chính thức dự họp. Khi biểu quyết bằng cách giơ tay chỉ có 5/9 đảng viên chính thức dự họp đồng ý hình thức kỷ luật cảnh cáo. Việc biểu quyết bằng giơ tay là trái với quy định nêu trên của Đảng. Hơn nữa, kết quả biểu quyết mới đạt 5/11 đảng viên chính thức của chi bộ là chưa đủ trên một nửa số đảng viên biểu quyết quyết định kỷ luật đảng viên theo quy định.

Như vậy, trường hợp câu hỏi nêu, chi bộ phải báo cáo đầy đủ kết quả biểu quyết kỷ luật và hồ sơ để tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết định, đồng thời yêu cầu chi bộ nghiêm túc kiểm điểm rút kinh nghiệm và xem xét trách nhiệm của chi bộ đó.

Câu hỏi 68: Một đảng viên vi phạm, chi bộ quyết định kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo và ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở đã ra quyết định chuẩn y.

Làm như vậy đúng hay sai?

Trả lời:

Điểm 4.1, Khoản 4, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Ủy ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở không có thẩm quyền kỷ luật đảng viên nhưng có trách nhiệm xem xét, kết luận, đề xuất đảng uỷ cơ sở và uỷ ban kiểm tra cấp trên xem xét, quyết định".

Điểm 6.1, Khoản 6, Điều 39 trong Hướng dẫn trên cũng quy định: "Quyết định khiển trách, cảnh cáo đối với đảng viên của chi bộ có hiệu lực ngay sau khi chi bộ công bố kết quả biểu quyết quyết định kỷ luật. Trong vòng 10 ngày, chi uỷ làm văn bản báo cho cấp trên và lưu hồ sơ. Văn bản của chi bộ trong đảng bộ bộ phận, trong đảng bộ cơ sở được đóng dấu của đảng uỷ cơ sở vào phía trên, góc trái. Đảng uỷ cơ sở hoặc cấp uỷ cấp trên trực tiếp không phải ra quyết định chuẩn y".

Theo các quy định trên, Nghị quyết của chi bộ về thi hành kỷ luật cảnh cáo đảng viên có hiệu lực ngay sau khi chi bộ công bố kết quả biểu quyết quyết định kỷ luật. Văn bản của chi bộ chỉ đóng dấu của đảng ủy cơ sở vào phía trên, góc trái. Ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở không được quyền thi hành kỷ luật đảng viên và cũng không có thẩm quyền chuẩn y quyết định kỷ luật của chi bộ. Việc làm của ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở nói trên là không đúng quy định về thẩm quyền, thủ tục thi hành kỷ luật đảng, cần phải được kiểm điểm, rút kinh nghiệm.

Câu hỏi 69: Một bí thư chi bộ vi phạm nghiêm trọng, nhưng chi bộ không xử lý kỷ luật; một đảng ủy viên vi phạm bị đảng ủy cơ sở quyết định kỷ luật bằng hình thức khiển trách. Qua kiểm tra, cấp ủy cấp trên quyết định thi hành kỷ luật khai trừ đảng viên là bí thư chi bộ đó và cách chức đảng ủy viên nói trên.

Cấp trên làm như vậy có đúng không?

Trả lời:

Khoản 5, Điều 36, Điều lệ Đảng khóa XI quy định: "Cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra cấp trên có quyền chuẩn y, thay đổi hoặc xóa bỏ hình thức kỷ luật do cấp dưới quyết định".

Khoản 2, Điều 38 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:

"Trường hợp tổ chức đảng cấp dưới không xử lý hoặc xử lý không đúng mức đối với tổ chức đảng và đảng viên vi phạm thì cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra cấp trên quyết định các hình thức kỷ luật theo thẩm quyền, đồng thời xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng đó.

Trường hợp vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật nhưng tổ chức đảng cấp dưới không xử lý hoặc xử lý không đúng mức thì cấp ủy hoặc uỷ ban kiểm tra cấp trên trực tiếp quyết định xem xét, xử lý kỷ luật theo thẩm quyền, không phải làm thủ tục từ dưới lên.

Đối với tổ chức đảng có trách nhiệm xem xét, xử lý nhưng không xử lý hoặc xử lý không đúng mức tổ chức đảng và đảng viên vi phạm thì phải xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng đó và nếu vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì phải xử lý đúng mức".

Theo nội dung các quy định trên, việc cấp ủy cấp trên ra quyết định khai trừ một đảng viên là bí thư chi bộ vi phạm khuyết điểm nghiêm trọng (chi bộ và đảng ủy cơ sở không thi hành kỷ luật) hoặc nâng mức kỷ luật một đảng ủy viên đảng ủy cơ sở từ khiển trách (do đảng ủy cơ sở quyết định kỷ luật) lên cách chức đảng ủy viên là đúng thẩm quyền. Đồng thời, phải xem xét trách nhiệm của chi bộ trong việc không thi hành kỷ luật hoặc đề nghị thi hành kỷ luật đối với đảng viên vi phạm nghiêm trọng.

Câu hỏi 70: Một tổ chức đảng không thi hành kỷ luật hoặc thi hành kỷ luật quá nhẹ đối với đảng viên vi phạm có được coi là tổ chức đảng trong sạch không?

Trả lời:

Điểm 2.2, Khoản 2, Điều 38 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11- 2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Đối với tổ chức đảng có trách nhiệm xem xét, xử lý nhưng không xử lý hoặc xử lý không đúng mức tổ chức đảng và đảng viên vi phạm thì phải xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng đó và nếu vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì phải xử lý đúng mức".

Theo quy định trên, một tổ chức đảng không thi hành kỷ luật hoặc thi hành kỷ luật quá nhẹ đối với đảng viên vi phạm thì đó là tổ chức đảng có khuyết điểm, không thể coi là một tổ chức đảng trong sạch.

Câu hỏi 71: Một chi bộ đảng bị xử lý kỷ luật thì xử lý kỷ luật những đảng viên trong chi bộ đó như thế nào?

Trả lời:

Điểm 1.2 và Điểm 1.3, Khoản 1, Điều 37 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Kỷ luật một tổ chức đảng phải xem xét và quy rõ trách nhiệm của tổ chức đó để xử lý cho đúng. Đồng thời phải xem xét trách nhiệm cá nhân để xử lý kỷ luật đối với những đảng viên vi phạm có liên quan đến vi phạm của tổ chức đảng và xem xét trách nhiệm người đứng đầu tổ chức đảng đó.

Tổ chức đảng bị kỷ luật thì tất cả thành viên trong tổ chức đó đều phải chịu trách nhiệm, phải ghi rõ nội dung, hình thức kỷ luật đối với tổ chức vào lý lịch từng thành viên. Những thành viên không tán thành hoặc không liên quan trực tiếp đến quyết định sai lầm của tổ chức đó cũng được ghi rõ vào lý lịch đảng viên".

Theo quy định trên, một chi bộ bị xử lý kỷ luật thì phải xem xét trách nhiệm cá nhân các đảng viên trong chi bộ đó để xử lý kỷ luật đối với những đảng viên vi phạm có liên quan đến vi phạm của tổ chức đảng và xem xét trách nhiệm người đứng đầu tổ chức đảng đó, tất cả thành viên trong chi bộ đều phải chịu trách nhiệm, phải ghi rõ nội dung, hình thức kỷ luật đối với tổ chức vào lý lịch của từng đảng viên.

Câu hỏi 72: Một chi ủy viên là bí thư chi bộ vi phạm nghiêm trọng phải cách hết các chức vụ trong đảng. Thủ tục thực hiện cách các chức vụ đó như thế nào? Khi quyết định thi hành kỷ luật, cấp ủy cấp trên ghi là: "Cách chức chi ủy viên và bí thư chi bộ" như vậy có đúng không?

Trả lời:

Khoản 1, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-1-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:

"Đảng ủy cơ sở quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong đảng bộ, cách chức cấp uỷ viên cấp dưới.

Quyết định cách chức bí thư, phó bí thư, cấp ủy viên của chi bộ hoặc đảng uỷ bộ phận trực thuộc nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp hoặc cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý.

Như vậy, theo quy định trên thì việc cách chức chi ủy viên, bí thư chi bộ thuộc thẩm quyền quyết định của đảng ủy cấp trên trực tiếp, chi bộ chỉ có quyền đề nghị, không có quyền quyết định.

Chi ủy viên, bí thư chi bộ phải kiểm điểm trước chi bộ và tự nhận hình thức kỷ luật. Hội nghị chi bộ thảo luận, kết luận, biểu quyết đề nghị hình thức cách chức với sự đồng ý của trên một nửa số đảng viên chính thức của chi bộ và báo cáo cấp ủy cấp trên trực tiếp quyết định.

Quyết định xử lý kỷ luật của cấp trên về việc cách chức chỉ cần ghi "cách chức chi ủy viên" hoặc ghi "cách hết các chức vụ trong Đảng" là đủ và đã cách chức chi ủy viên thì đương nhiên không còn chức bí thư chi bộ. Nếu trong quyết định kỷ luật ghi "cách chức chi ủy viên và bí thư chi bộ" là không cần thiết.

Câu hỏi 73: Một bí thư chi bộ có vi phạm bị cách chức bí thư. Sau đó ít lâu, đồng chí này lại tiếp tục có vi phạm mới cần phải xử lý kỷ luật tiếp, nhưng chưa đến mức phải khai trừ ra khỏi Đảng.

Như vậy, xử lý hình thức kỷ luật nào cho thỏa đáng?

Trả lời:

- Điểm 6.4, Khoản 6, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Đối với chi bộ không có chi ủy, nếu cách chức bí thư hoặc phó bí thư chi bộ thì đương nhiên còn là đảng viên".

- Theo quy định trên, trường hợp câu hỏi nêu một bí thư chi bộ bị xử lý kỷ luật cách chức bí thư thì vẫn còn là chi ủy viên (nếu chi bộ có chi ủy). Trường hợp chi bộ đó không có chi ủy, không có phó bí thư thì còn là đảng viên chính thức của chi bộ.

Sau khi bị kỷ luật cách chức bí thư chi bộ, đảng viên lại tiếp tục vi phạm đến mức phải xử lý thì tổ chức đảng có thẩm quyền tiến hành xem xét, xử lý đối với đảng viên vi phạm nêu trên thì tùy nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ mà áp dụng hình thức kỷ luật phù hợp.

Câu hỏi 74: Một đảng viên vi phạm pháp luật, tòa án xử sơ thẩm và tuyên phạt năm tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Đảng viên này kháng án. Trường hợp này xử lý như thế nào?

Trả lời:

Khoản 1, Điều 40, Điều lệ Đảng khóa XI quy định: "Đảng viên bị hình phạt từ cải tạo không giam giữ trở lên phải khai trừ ra khỏi Đảng".

Điểm 1.3, Khoản 1 Điều 40 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:

"Trường hợp bị tòa án có thẩm quyền tuyên phạt từ hình phạt cải tạo không giam giữ trở lên, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thì tổ chức đảng có thẩm quyền căn cứ bản án của tòa án để quyết định khai trừ (đối với đảng viên chính thức) hoặc xóa tên trong danh sách đảng viên (đối với đảng viên dự bị), không phải theo quy trình thi hành kỷ luật. Tổ chức đảng có thẩm quyền quyết định khai trừ đảng viên thông báo bằng văn bản cho chi bộ nơi đảng viên sinh hoạt và các tổ chức đảng nơi đảng viên đó là thành viên.

Trường hợp câu hỏi nêu, căn cứ vào quy định trên, đảng viên vi phạm bị tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt năm tháng tù nhưng cho hưởng án treo nhưng đảng viên đang kháng cáo theo quy định của pháp luật "án chưa có hiệu lực pháp luật". Do đó, vẫn phải tiếp tục đình chỉ sinh hoạt đảng đối với đảng viên đó đến khi có bản án của tòa phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thì tổ chức đảng có thẩm quyền căn cứ bản án của tòa án để quyết định xử lý kỷ luật đối với đảng viên đó bằng hình thức thích hợp.

Câu hỏi 75: Chi bộ biểu quyết hình thức kỷ luật đối với đảng viên vi phạm, đảng viên đang bị xem xét, xử lý kỷ luật có được biểu quyết kỷ luật đối với mình không?

Trả lời:

Khoản 4, Điều 3, Điều lệ Đảng khóa XI quy định: "Đảng viên có quyền: trình bày ý kiến khi tổ chức đảng nhận xét, quyết định công tác hoặc thi hành kỷ luật đối với mình. Đảng viên dự bị có các quyền trên đây, trừ quyền biểu quyết, ứng cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo của Đảng".

Khoản 1, Điều 39, Điều lệ Đảng khóa XI quy định: "Đảng viên vi phạm phải kiểm điểm trước chi bộ, tự nhận hình thức kỷ luật".

Căn cứ các quy định trên, khi chi bộ biểu quyết về hình thức kỷ luật đối với mình, đảng viên chính thức là đối tượng xem xét kỷ luật cũng được quyền biểu quyết kỷ luật đối với mình. Còn đảng viên dự bị thì không được quyền biểu quyết kỷ luật khi chi bộ quyết định hình thức kỷ luật đối với mình.

Câu hỏi 76: Một bí thư chi bộ, đảng uỷ viên đảng ủy xã, vi phạm bị kỷ luật cách chức chi uỷ viên, cách chức đảng uỷ viên. Đảng uỷ xã đã tiến hành xử lý cách chức chi uỷ viên của đồng chí đó, sau đó làm thủ tục gửi lên ban thường vụ huyện uỷ đề nghị cách chức đảng uỷ viên đảng ủy xã. Ban thường vụ huyện uỷ xét kỷ luật căn cứ vào hồ sơ của đảng uỷ xã gửi lên và quyết định khai trừ ra khỏi Đảng đồng chí đó.

Về thủ tục, nguyên tắc và thẩm quyền xử lý kỷ luật như vậy đối với đảng viên đó có đúng không?

Trả lời:

Điểm 6.2 và Điểm 6.3, Khoản 6, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Đảng viên tham gia nhiều cấp uỷ (trừ Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương vi phạm đến mức phải cách chức cấp uỷ viên cao nhất hoặc khai trừ thì do ban thường vụ cấp uỷ cấp trên trực tiếp của cấp uỷ cấp cao nhất mà đảng viên đó là thành viên quyết định. Nếu phải cách chức cấp uỷ viên ở một cấp uỷ cấp dưới thì do ban thường vụ cấp uỷ quản lý đảng viên đó quyết định".

Đảng viên giữ nhiều chức vụ vi phạm kỷ luật phải cách chức một, một số hay tất cả các chức vụ hoặc phải khai trừ thì tổ chức đảng quản lý đảng viên đó quyết định".

Như vậy, căn cứ quy định trên trong trường hợp đã nêu, nếu đảng viên vi phạm chỉ đến mức cách chức chi uỷ viên thì đảng uỷ xã xem xét, quyết định. Nếu vi phạm đến mức phải cách chức cả chức chi ủy viên và chức đảng uỷ viên đảng ủy xã thì đảng uỷ xã xem xét, biểu quyết đề nghị cách chức các chức vụ đó (nhưng không ra quyết định) và gửi báo cáo đề nghị cùng hồ sơ vụ việc đó lên ủy ban kiểm tra huyện ủy để thẩm định và trình ban thường vụ huyện uỷ xem xét, quyết định kỷ luật theo thẩm quyền.

Căn cứ hồ sơ của đảng uỷ xã và kết quả thẩm định, đề nghị của ủy ban kiểm tra huyện ủy, ban thường vụ huyện uỷ căn cứ nội dung, tính chất, mức độ tác hại, nguyên nhân vi phạm và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ để xem xét quyết định kỷ luật theo thẩm quyền. Nếu thấy tính chất, mức độ vi phạm nghiêm trọng áp dụng hình thức cách chức là không đúng mức thì ban thường vụ huyện ủy quyết định khai trừ đảng viên đó ra khỏi Đảng.

Câu hỏi 77: Một đảng viên vi phạm phải xử lý kỷ luật khiển trách (thuộc thẩm quyền của chi bộ). Vậy, trước khi họp để xem xét, quyết định kỷ luật, đại diện chi bộ có phải nghe đảng viên đó trình bày ý kiến hay không, hay chỉ nghe chung trong cuộc họp chi bộ để xem xét quyết định kỷ luật?

Trả lời:

Khoản 1, Điều 39 trong Hướng dẫn thực hiện các quy đinh về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:"Đảng viên vi phạm phải kiểm điểm trước chi bộ, tự nhận hình thức kỷ luật; nếu từ chối kiểm điểm hoặc bị tạm giam, tổ chức đảng vẫn tiến hành xem xét kỷ luật. Trường hợp cần thiết, cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra cấp có thẩm quyền trực tiếp xem xét kỷ luật".

Điểm 3.1 và Điểm 3.2, Khoản 3 Điều 39 trong Hướng dẫn trên quy định:

"3.1- Trước khi quyết định kỷ luật, đại diện tổ chức đảng có thẩm quyền nghe đảng viên vi phạm hoặc đại diện tổ chức đảng vi phạm trình bày ý kiến và ý kiến này được báo cáo đầy đủ (kèm theo bản tự kiểm điểm) khi tổ chức đảng có thẩm quyền họp xem xét, quyết định kỷ luật.

3.2- Đại diện tổ chức đảng có thẩm quyền là đại diện của cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra cấp có thẩm quyền kỷ luật.

Như vậy, căn cứ vào các quy định trên trước khi họp xét kỷ luật đảng viên vi phạm, đại diện chi bộ (đồng chí trong ban chi ủy) hoặc đồng chí bí thư, hoặc phó bí thư chi bộ (đối với chi bộ không có chi ủy) phải gặp đảng viên vi phạm để nghe trình bày ý kiến và ý kiến này được báo cáo đầy đủ trước chi bộ khi chi bộ họp xét kỷ luật. Khi chi bộ họp xét kỷ luật, đảng viên vi phạm phải trình bày kiểm điểm trước chi bộ và tự nhận hình thức kỷ luật đảng phù hợp với nội dung, tính chất, mức độ, tác hại và nguyên nhân vi phạm.

Câu hỏi 78: Đảng viên tham gia đánh bạc bị công an bắt lập biên bản. Quá trình xem xét kỷ luật có hai ý kiến khác nhau:

- Loại ý kiến thứ nhất cho rằng: Những đảng viên tham gia đánh bạc dưới mọi hình thức bị bắt đều phải khai trừ ra khỏi Đảng.

- Loại ý kiến thứ hai cho rằng: Có thể áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để xem xét đảng viên tham gia đánh bạc bị bắt.

Vậy, khi đảng viên tham gia đánh bạc bị công an bắt lập biên bản có nhất thiết phải xử lý bằng hình thức khai trừ không?

Trả lời:

Điểm 1.2, Khoản 1, Điều 35 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Việc thi hành kỷ luật phải căn cứ nội dung, mức độ, tính chất, tác hại và nguyên nhân vi phạm và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ để xem xét, quyết định hình thức kỷ luật cho phù hợp theo thẩm quyền và phải chịu trách nhiệm trước quyết định đó".

Điều 17, Quy định số 47-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, quy định đảng viên không được: "Tổ chức, tham gia đánh bạc dưới mọi hình thức".

Điểm a, Khoản 2 Điều 2 trong Hướng dẫn số 11-HD/UBKTTW ngày 24-3-2008 của ủy ban Kiểm tra Trung ương hướng dẫn thực hiện Quy định số 94-QĐ/TW ngày 15-10-2007 của Bộ Chính trị (khóa X) về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm quy định: "Về phương hướng xử lý phải được các cấp uỷ lãnh đạo chặt chẽ, thận trọng... Khai trừ những đảng viên suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống;… cờ bạc dưới mọi hình thức;.. ".

Như vậy, theo quy định trên thì đảng viên tham gia đánh bạc bị công an bắt lập biên bản là vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm, vi phạm kỷ luật của Đảng, tổ chức đảng có thẩm quyền căn cứ vào nội dung, mức độ, tính chất, tác hại, nguyên nhân vi phạm và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ để xem xét, quyết định hình thức kỷ luật phù hợp theo thẩm quyền đối với đảng viên vi phạm và phải chịu trách nhiệm trước quyết định đó.

Câu hỏi 79: Đảng bộ B có ba quần chúng xin giấy chứng nhận bồi dưỡng đối tượng kết nạp đảng. Đồng chí A là phó giám đốc trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện đã ký ba giấy chứng nhận không hợp pháp cho ba quần chúng nêu trên để được Đảng bộ B xem xét kết nạp vào Đảng. Vậy, các hành vi trên có vi phạm Khoản 2, Điều 21 Quy định số 181-QĐ/TW ngày 30-3-2013 của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm không?

Trả lời:

Theo Từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1996 thì chứng chỉ là giấy chứng nhận do cơ quan có thẩm quyền cấp. Như vậy, giấy chứng nhận học lớp bồi dưỡng đối tượng kết nạp Đảng là một loại chứng chỉ.

Điểm a và Điểm d, Khoản 2 Điều 21 Quy định số 181-QĐ/TW ngày 30-3-2013 của Bộ Chính tả về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm quy định:

"a) Xin, mua, sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không hợp pháp để lập hồ sơ. ..

d) Ký, cấp văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp cho người không đủ tiêu chuẩn, điều kiện...".

Như vậy, theo quy định trên, nếu đúng ba quần chúng đó không dự học mà có hành vi xin giấy chứng nhận bồi dưỡng đối tượng kết nạp đảng và đã được đồng chí phó giám đốc trung tâm ký, cấp giấy chứng nhận cho ba quần chúng không đủ tiêu chuẩn, điều kiện để lập hồ sơ kết nạp vào Đảng là vi phạm kỷ luật của Đảng. Cần phải xem xét, xử lý đối với ba quần chúng xin giấy chứng nhận bồi dưỡng kết nạp Đảng và cả đồng chí phó giám đốc trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện tùy theo tính chất, mức độ tác hại, nguyên nhân vi phạm và tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ để giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật của Đảng.

Câu hỏi 80: Một đảng viên không giữ chức vụ đang sinh hoạt tại chi bộ quân sự xã vi phạm trong việc mua và sử dụng bằng tốt nghiệp phổ thông trung học không hợp pháp để đăng ký học lớp trung cấp luật. Chi bộ quân sự xã đã họp kiểm điểm và quyết định kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo. Có ý kiến cho rằng thẩm quyền ban hành quyết định kỷ luật trong trường hợp này là của ban chấp hành đảng bộ xã.

Vậy trường hợp vi phạm về mua bán, sử dụng văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp trên thuộc thẩm quyền thi hành kỷ luật của chi bộ quân sự xã hay của ban chấp hành đảng bộ xã ?

Trả lời:

Khoản 1, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Chi bộ quyết định khiển trách cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm  vụ do cấp trên giao)".

Như vậy, theo quy định trên thì đảng viên đang sinh hoạt tại chi bộ quân sự xã vi phạm trong việc mua và sử dụng bằng tốt nghiệp phổ thông trung học không hợp pháp là vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, không phải vi phạm nhiệm vụ do cấp trên giao. Vì vậy, vi phạm này thuộc thẩm quyền xem xét, xử lý kỷ luật của chi bộ quân sự xã.
----------------------------------------------------------------------------------------------
 

Phần thứ tư

GIẢI QUYẾT TỐ CÁO, KHIẾU NẠI KỶ LUẬT ĐẢNG 

Câu hỏi 81: Tố cáo là gì? Tố cáo trong Đảng là gì? Ai có quyền tố cáo?

Trả lời:

- Tố cáo là báo cáo cho mọi người hoặc cơ quan có thẩm quyền biết người hoặc hành động phạm pháp nào đó1.

Tố cáo là quyền của công dân được quy định trong Hiến pháp năm 1992 của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Điều 9 Luật tố cáo năm 2011 quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người tố cáo.

- Tại Điểm 5.1, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:

"Tố cáo trong Đảng là việc công dân, đảng viên báo cho tổ chức đảng hoặc cán bộ, đảng viên có trách nhiệm biết về hành vi của tổ chức đảng hoặc đảng viên mà người tố cáo cho là vi phạm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức hoặc cá nhân.

Trường hợp cơ quan, tổ chức cung cấp các thông tin, báo cáo cho tổ chức đảng, đảng viên có trách nhiệm về hành vi vi phạm của tổ chức đảng hoặc đảng viên thì không phải là tố cáo".

Khoản 3, Điều 3 Điều lệ Đảng quy định đảng viên có quyền "Phê bình, chất vấn về hoạt động của tổ chức đảng, đảng viên ở mọi cấp trong phạm vi tổ chức; báo cáo, kiến nghị với các cơ quan có trách nhiệm và yêu cầu được trả lời".

Câu hỏi 82: Để giải quyết tố cáo được tốt, có những yêu cầu gì đối với người tố cáo và đối với đảng viên, tổ chức đảng bị tố cáo?

Trả lời:

Theo quy định tại Tiết 5.1.1, Điểm 5.1, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương, để giải quyết tố cáo được tốt, yêu cầu đối với người tố cáo và đảng viên, tổ chức đảng bị tố cáo như sau:

- Người tố cáo phải trình bày trung thực sự việc, chịu trách nhiệm trước Đảng về nội dung tố cáo và bằng chứng của mình, ghi rõ họ tên, địa chỉ của mình để tổ chức đảng có thẩm quyền thẩm tra, xác minh và thông báo kết quả khi đã được xem xét, kết luận. Trường hợp tố cáo trực tiếp, yêu cầu người tố cáo viết lại bằng văn bản và ký tên. Nếu người tố cáo vì điều kiện nào đó mà không viết bằng văn bản được (trình độ văn hóa kém hoặc sức khỏe không cho phép) thì người trực tiếp nhận tố cáo bằng miệng phải ghi chép thành văn bản, đọc cho người tố cáo nghe và ký tên xác nhận.

Người tố cáo không được gửi hoặc phổ biến nội dung tố cáo, tên người bị tố cáo, nội dung làm việc với tổ chức, cá nhân giải quyết tố cáo, nội dung thông báo giải quyết tố cáo của tổ chức đảng có thẩm quyền cho những tổ chức hoặc cá nhân không có trách nhiệm giải quyết tố cáo.

- Đảng viên và tổ chức đảng bị tố cáo phải báo cáo, trình bày rõ, trung thực, đầy đủ, kịp thời những vấn đề bị tố cáo, tự giác nhận rõ sai lầm, khuyết điểm và có quyền sử dụng những bằng chứng để chứng minh nội dung tố cáo không đúng. Nếu thật sự có khuyết điểm, vi phạm thì phải tự giác kiểm điểm, không giấu giếm, quanh co, không được truy tìm, trấn áp, trù dập, trả thù người phê bình, tố cáo bằng bất kỳ hình thức nào.

Câu hỏi 83: Đơn tố cáo giấu tên, mạo tên có xem xét giải quyết không?

Trả lời:

Tiết 5.1.1, Điểm 5.1, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:

"Không giải quyết những tố cáo giấu tên, mạo tên, không rõ địa chỉ và những tố cáo có tên đã được cấp có thẩm quyền do Điều lệ Đảng quy định xem xét, kết luận, nay tố cáo lại nhưng không có thêm tài liệu, chứng cứ mới làm thay đổi bản chất vụ việc; những tố cáo có tên nhưng nội dung không cụ thể, không có căn cứ để thẩm tra, xác minh; đơn tố cáo không phải bản do người tố cáo trực tiếp ký tên; đơn tố cáo có từ hai người trở lên cùng ký tên; đơn tố cáo của người không có năng lực hành vi dân sự".

Như vậy, theo quy định trên, tố cáo giấu tên, mạo tên không xem xét, giải quyết. Trường hợp nội dung đơn tố cáo giấu tên, mạo tên nêu được sự việc cụ thể, có cơ sở để thẩm tra, xác minh thì ủy ban kiểm tra kết hợp với các thông tin khác quyết định kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

Câu hỏi 84: Có ba đảng viên cùng nhau viết đơn không ký tên, tố cáo lãnh đạo của mình, chi bộ phát hiện ra ba đồng chí này qua bản thảo viết tay. Vậy, xử lý trường hợp này như thế nào?

Trả lời:

- Đây là trường hợp tố cáo giấu tên tố cáo lãnh đạo một đơn vị (cấp nào chưa rõ) nên cách xử lý như sau:

Việc giải quyết đơn tố cáo đối với đảng viên là lãnh đạo thuộc thẩm quyền của cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra của cấp uỷ quản lý đảng viên bị tố cáo, không phải thẩm quyền của chi bộ. Do đó, đơn tố cáo phải được chuyển lên cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra của cấp uỷ quản lý tổ chức đảng hoặc đảng viên bị tố cáo để xem xét, giải quyết.

Việc giải quyết tố cáo phải thực hiện đúng Quy định số 45-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng khóa XI và Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương.

Trường hợp đối với đơn tố cáo giấu tên tổ chức đảng có thẩm quyền có thể kết hợp với các kênh thông tin khác để quyết định chuyển sang kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm. Sau khi kết luận, thấy có dụng ý xấu gây tổn hại nghiêm trọng cho Đảng Nhà nước nhất thiết phải xem xét, xử lý thì báo cáo cấp uỷ có thẩm quyền để chỉ đạo giải quyết tiếp.

- Việc xử lý kỷ luật người bị tố cáo hay người tố cáo là căn cứ vào nội dung tố cáo đúng, sai hoặc có dụng ý xấu. Do đó, đảng viên tố cáo có ký tên mà vu cáo gây tổn hại nghiêm trọng cũng phải thi hành kỷ luật. Ngược lại, đảng viên tố cáo giấu tên nhưng tố cáo đúng, có ý thức xây dựng, thì tuy không thực hiện đúng Quy định số 47-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, phải phê bình nhắc nhở nhưng không phải xử lý kỷ luật.

- Trường hợp này, câu hỏi chưa nêu rõ đối tượng bị tố cáo do cấp uỷ cấp nào quản lý; vì sao chi bộ lại phát hiện được người tố cáo giấu tên, nội dung tố cáo đúng hay sai, việc xác minh, phát hiện người tố cáo giấu tên do ai chỉ đạo và tiến hành trước hay sau khi có kết luận giải quyết tố cáo. Do đó, căn cứ vào quy định của Đảng và nội dung trả lời như trên, chi bộ xem xét, xác định cấp có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với đảng viên bị tố cáo để chuyển cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết tố cáo theo quy định của Đảng.

Câu hỏi 85: Một đảng viên có đơn tố cáo gửi đảng ủy cấp trên trực tiếp của chi bộ về những việc làm vi phạm Điều lệ Đảng và pháp luật của Nhà nước của đồng chí bí thư chi bộ, thủ trưởng cơ quan. Sau đó, đảng viên này nhận được công văn của đảng uỷ do đồng chí phó bí thư đảng ủy ký, với các nội dung sau:

- Yêu cầu phải có tài liệu, bằng chứng để chứng minh những nội dung tố cáo trước chi bộ và ủy ban kiểm tra đảng ủy để xem xét theo quy định của Điều lệ Đảng.

- Đảng viên (người tố cáo) tham gia họp công đoàn không đúng nguyên tắc, gửi đơn vượt cấp, trong viết bài phỏng vấn, đánh máy có sai sót nội dung. Vì vậy, phải có bản kiểm điểm trình bày trước hội nghị chi bộ để xem xét.

Vậy:

- Việc đảng viên tố cáo là đoàn viên công đoàn đã dự họp công đoàn do ban chấp hành công đoàn cơ quan triệu tập có đúng nguyên tắc không? Việc gửi đơn tố cáo của đồng chí này có vi phạm Điều lệ Đảng không?

Những điều đảng ủy yêu cầu như nêu trên có đúng với quy định của Điều lệ Đảng và hướng dẫn của Trung ương không? Nếu sai thì xử lý như thế nào?

Trả lời:

- Điều 3, Điều lệ Đảng khóa XI quy định: "Đảng viên có quyền phê bình, chất vấn…". Tiết 5.1.1, Điểm 5.1, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11- 2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Tổ chức đảng và đảng viên nhận được tố cáo phải bảo đảm bí mật cho người tố cáo và hướng dẫn người tố cáo thực hiện đúng quy định của Đảng, Nhà nước. Không để người bị tố cáo chủ trì giải quyết tố cáo đối với mình. Không để người tố cáo hoặc người có liên quan đến tố cáo giải quyết tố cáo. Có biện pháp bảo vệ người tố cáo. Uỷ ban kiểm tra giải quyết tố cáo phải xử lý hoặc đề nghị cấp uỷ xử lý hay chỉ đạo xử lý nghiêm những trường hợp sợ trù dập, trả thù người tố cáo; cản trở, dìm bỏ, không xem xét, giải quyết tố cáo; bao che những việc làm sai trái của đối tượng bị tố cáo; để lộ tên người tố cáo cho đối tượng bị tố cáo biết, để lộ tên người tố cáo, nội dung tố cáo cho người không có trách nhiệm biết".

- Căn cứ các quy định trên và trường hợp câu hỏi nêu cho thấy:

Thẩm quyền giải quyết tố cáo trong trường hợp này là của ủy ban kiểm tra đảng ủy hoặc đảng ủy cơ quan (cấp trên của chi bộ).

Việc đảng ủy yêu cầu đảng viên tố cáo trình bày bằng chứng chứng minh nội dung tố cáo trước chi bộ (trước đảng viên bị tố cáo) là vi phạm quy định vì đã tiết lộ tên người tố cáo và sai quy trình giải quyết tố cáo.

Tổ chức Công đoàn do Đảng lãnh đạo, mọi đảng viên tham gia sinh hoạt công đoàn phải chấp hành Điều lệ Công đoàn. Do vậy, khi ban chấp hành công đoàn triệu tập hội nghị, đoàn viên có trách nhiệm tham gia sinh hoạt và đóng góp ý kiến. Đó là việc làm không sai nguyên tắc của Đảng.

Việc đảng viên gửi đơn tố cáo đến cấp có thẩm quyền (đồng chí bí thư chi bộ thuộc đảng ủy cơ quan quản lý) là đúng quy định, vì đảng viên có quyền phê bình, chất vấn về hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên ở một cấp trong phạm vi tổ chức; báo cáo, kiến nghị với các cơ quan có trách nhiệm và yêu cầu được trả lời. Mặt khác, không có quy định nào của Đảng hạn chế việc gửi đơn kiến nghị, phản ánh lên cấp trên.

Như vậy, những nội dung trong công văn của đảng ủy gửi cho đảng viên là không đúng, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, vi phạm Điều lệ Đảng và các hướng dẫn của Trung ương. Tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên cần phải tiến hành xem xét xử lý nghiêm minh các tổ chức, cá nhân có khuyết điểm, vi phạm.

Câu hỏi 86: Một số cán bộ cơ sở thuộc diện cấp trên quản lý, có dấu hiệu vi phạm Điều lệ Đảng, đảng viên đã có đơn kiến nghị lên cấp có thẩm quyền biết để xem xét. Sau khi nhận được đơn của đảng viên, cấp ủy có thẩm quyền lại cho đây là đơn tố cáo và giao cho một đồng chí trong số cán bộ nêu trên chủ trì giải quyết. Việc làm đó đúng hay sai? Nếu sai xử lý như thế nào?

Trả lời:

Điểm 5.1, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Tố cáo trong Đảng là việc công dân, đảng viên báo cho tổ chức đảng hoặc cán bộ đảng viên có trách nhiệm biết về hành vi của tổ chức đảng hoặc đảng viên mà người tố cáo cho là vi phạm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức hoặc cá nhân".

Như vậy, nội dung đơn kiến nghị nêu trên được coi là nội dung tố cáo đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng và phải tiến hành xem xét tố cáo là đúng.

- Tiết 5.1.1, Điểm 5.1, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn trên quy định: "Tổ chức đảng, đảng viên được tố cáo phải bảo đảm bí mật cho người tố cáo và hướng dẫn người tố cáo thực hiện đúng quy định của Đảng, Nhà nước. Không để người bị tố cáo chủ trì giải quyết tố cáo đối với mình. Không để người tố cáo hoặc người có liên quan đến tố cáo giải quyết tố cáo. Có biện pháp bảo vệ người tố cáo. Uỷ ban kiểm tra giải quyết tố cáo phải xử lý hoặc đề nghị cấp uỷ xử lý hay chỉ đạo xử lý nghiêm những trường hợp sau: trù dập, trả thù người tố cáo; cản trở, dìm bỏ, không xem xét, giải quyết tố cáo; bao che những việc làm sái trái của đối tượng bị tố cáo; để lộ tên người tố cáo cho đối tượng bị tố cáo biết, để lộ tên người tố cáo, nội dung tố cáo cho người không có trách nhiệm biết; lợi dụng tố cáo để xuyên tạc sự thật, vu cáo, đả kích, gây dư luận xấu đối với người khác".

- Căn cứ vào Hướng dẫn trên thì trường hợp như câu hỏi nêu, việc cấp ủy có thẩm quyền sau khi nhận được đơn tố cáo của đảng viên lại giao cho người bị tố cáo đứng ra chủ trì giải quyết là sai quy định của Đảng. Tổ chức đảng có thẩm quyền cần phải xem xét, xử lý nghiêm minh tổ chức đảng, đảng viên có sai phạm quy định về giải quyết tố cáo trong Đảng bằng hình thức thích hợp.

Câu hỏi 87: Đảng viên viết thư tố cáo những hành vi vi phạm của tổ chức đảng hoặc đảng viên ở cơ sở với cấp trên, nhưng không thông qua lãnh đạo cơ sở, như vậy có đúng không?

Trả lời:

Khoản 3, Điều 3, Điều lệ Đảng khóa XI quy định:  "Đảng viên có quyền: phê bình, chất vấn về hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên ở mọi cấp trong phạm vi tổ chức; báo cáo, kiến nghị với các cơ quan có trách nhiệm và yêu cầu được trả lời".

Điểm 5.1, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm ra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII, Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng quy định:

"Tố cáo trong Đảng là việc công dân, đảng viên báo cho tổ chức đảng hoặc cán bộ, đảng viên có trách nhiệm biết về vi phạm của tổ chức đảng hoặc đảng viên mà người tố cáo cho là vi phạm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức hoặc cá nhân".

"Người tố cáo phải trình bày trung thực sự việc, ghi rõ họ, tên, địa chỉ, chịu trách nhiệm về nội dung tố cáo và bằng chứng của mình. Nếu phản ánh trực tiếp thì phải được ghi lại thành văn bản, người tố cáo phải ký tên chịu trách nhiệm vào văn bản. Không được gửi hoặc phổ biến nội dung tố cáo, tên người bị tố cáo, nội dung làm việc với tổ chức, cá nhân giải quyết tố cáo, nội dung thông báo giải quyết tố cáo của tổ chức đảng có thẩm quyền cho những tổ chức hoặc cá nhân không có trách nhiệm".

Như vậy, theo các quy định trên, đảng viên có quyền viết đơn tố cáo những hành vi vi phạm của tổ chức, cán bộ, đảng viên trong đơn vị mình với cơ quan lãnh đạo cấp trên, không bắt buộc phải thông qua đảng ủy cơ sở. Tuy nhiên, để nêu cao tinh thần đấu tranh phê bình và tự phê bình nhằm xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh thì những vấn đề liên quan đến trách nhiệm giải quyết của cấp ủy cơ sở nơi mình sinh hoạt, đảng viên đó nên báo cáo đề xuất ý kiến của mình với cấp ủy cơ sở trước để đề nghị xem xét, giải quyết. Nếu thấy cấp ủy cơ sở không giải quyết giải quyết không có hiệu quả hoặc có biểu hiện bao che thì mới gửi đơn lên cấp trên để đề nghị giải quyết.

Câu hỏi 88: Đại hội đảng bộ xã tiến hành bầu đảng ủy khoá mới, sau khi kiểm phiếu, ban kiểm phiếu công bố kết quả bỏ phiếu và danh sách 13 đồng chí trúng cử đảng ủy với đại hội. Đại hội không có ý kiến. Ban kiểm phiếu niêm phong phiếu và giao cho đoàn chủ tịch, đồng chí thường trực đảng ủy và là chủ nhiệm ủy ban kiểm tra đảng ủy khóa mới quản lý trong 3 ngày, sau đó đồng chí phụ trách văn phòng đảng ủy lấy về, lấy lý do là để quản lý cùng với tài liệu của đại hội.

Sau 4 ngày, ủy ban kiểm tra của huyện ủy nhận được đơn tố cáo về kết quả bầu cử ban chấp hành khóa mới của một đảng viên. Ủy ban kiểm tra huyện ủy thành lập tổ công tác tiến hành giải quyết đơn. Khi đồng chí phụ trách văn phòng đảng ủy mang gói phiếu ra để kiểm tra thì tổ công tác và 9 đồng chí trong ban kiểm phiếu cùng 3 đồng chí đại diện đoàn chủ tịch đại hội phát hiện gói phiếu bị mất niêm phong. Tổ công tác tiến hành lập biên bản, không kiểm lại phiếu mà niêm phong gói phiếu lại để xin ý kiến giải quyết tiếp. Người đứng đơn yêu cầu trả lời đơn về kết quả kiểm phiếu lại.

Có hai ý kiến khác nhau:

1. Tiến hành kiểm phiếu lại, nếu kết quả kiểm phiếu khác với kết quả đã công bố trước đại hội thì tiến hành đại hội để bầu ban chấp hành. Chưa tiến hành phân công nhiệm vụ cho số đồng chí đã trúng cử ban chấp hành khóa mới.

2. Không tiến hành kiểm phiếu lại, với lý do là ban kiểm phiếu đã cam kết trách nhiệm về kết quả bầu cử đã công bố trước đại hội và gói phiếu đã mất niêm phong.

Vậy, nên giải quyết thế nào để bảo đảm các nguyên tắc, quy định của Đảng và trả lời người đứng đơn?

Trả lời:

Khoản 2, Điều 12, Quyết định số 220-QĐ/TW ngày 17-4-2009 của Bộ Chính trị (khóa X) về việc ban hành Quy chế bầu cử trong Đảng quy định ban kiểm phiếu có nhiệm vụ: "Lập biên bản kiểm phiếu; báo cáo với đoàn chủ tịch, công bố kết quả bầu cử và ký vào biên bản bầu cử, niêm phong phiếu bầu và chuyển cho đoàn chủ tịch đại hội để đoàn chủ tịch đại hội bàn giao cho cấp uỷ khóa mới lưu trữ theo quy định".

Khoản 1, Điều 30, Chương VII của Quy chế trên cũng chỉ rõ: "Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bế mạc đại hội, nếu có đơn, thư khiếu nại về bầu cử, thì ủy ban kiểm tra của cấp ủy cấp trên trực tiếp có trách nhiệm kiểm tra lại và báo cáo cấp ủy cùng cấp xem xét, quyết định".

Cũng trong Quy chế này, tại Điều 32 quy định: "Phiếu bầu cử được ban kiểm phiếu niêm phong và chuyển cho ban tổ chức của cấp ủy cung cấp (chuyển cho chi ủy nếu  bầu cử trong chi bộ) để lưu trữ trong thời hạn 6 tháng. Trong thời gian này, nếu không có quyết định của ban thường vụ cấp uỷ (chi uỷ), không ai được tự ý mở niêm phong. Quá 6 tháng, nếu không có khiếu nại, tố cáo về kết quả bầu cử, ban thường vụ cấp uỷ quyết định cho huỷ số phiếu đó".

- Trường hợp đã nêu trên căn cứ vào các quy định trên, huyện ủy cần xem xét, kết luận về vụ việc này để trả lời cho tổ chức đảng cấp dưới và người khiếu nại biết.

Riêng phiếu bầu cử được ban kiểm phiếu niêm phong nhưng không chuyển cho ban tổ chức của cấp ủy cùng cấp lưu trữ theo quy định mà chuyển cho đồng chí thường trực đảng ủy khóa mới và đồng chí thường trực lại tự ý chuyển cho đồng chí phụ trách văn phòng đảng ủy giữ phiếu sau bầu cử ban chấp hành khóa mới là không đúng quy định. Huyện ủy phải tiến hành xem xét và có kết luận đầy đủ về việc vi phạm nói trên, giải quyết dứt điểm vướng mắc cho cơ sở, đồng thời phải xem xét xử lý kỷ luật nghiêm khắc cán bộ, đảng viên có liên quan đến vụ việc, trước hết là đồng chí phụ trách văn phòng cấp ủy, người không có thẩm quyền quản lý phiếu bầu theo quy định. Trường hợp phát hiện đồng chí bị khiếu nại có vi phạm cũng phải được xem xét, xử lý theo đúng quy định của Điều lệ Đảng, Quy chế bầu cử trong Đảng và thông báo cho người có đơn tố cáo biết bằng hình thức thích hợp.

Câu hỏi 89: Một đảng viên thuộc đảng bộ xã gửi đơn tố cáo lên ban thường vụ huyện uỷ và ủy ban kiểm tra huyện ủy về một số đồng chí lãnh đạo chủ chốt của xã vi phạm trong việc cấp đất và đền bù giải phóng mặt bằng để xây dựng khu công nghiệp. Nhưng đơn tố cáo đó lại được chuyển, giao cho đảng ủy xã xem xét, giải quyết. Sau đó, đảng viên đó được thường trực đảng ủy và ủy ban kiểm tra đảng ủy xã mời lên làm việc và yêu cầu phải làm bản kiểm điểm về việc đã viết đơn tố cáo lãnh đạo xã mà không báo cáo với ban thường vụ và ủy ban kiểm tra đảng ủy xã; tự nhận hình thức kỷ luật về việc làm vô kỷ luật trên.

Vậy, việc đảng viên làm đơn tố cáo gửi lên cấp giải quyết như trên có đúng quy định của Điều lệ Đảng không? Cấp huyện gửi đơn tố cáo về cho cấp xã giải quyết như trên có đúng quy định không? Nếu sai thì thì xử lý như thế nào?

Trả lời:

Khoản 3, Điều 3, Điều lệ Đảng khóa XI quy định đảng viên có quyền: "Phê bình, chất vấn về hoạt động của tổ chức đảng, đảng viên ở một cấp trong phạm vi tổ chức; báo cáo, kiến nghị với các cơ quan có trách nhiệm và yêu cầu được trả lời".

Tiết 2.2.2, Điểm 2.2, Khoản 2, Điều 30 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát kỷ luật Đảng trong Chương VII, Chương VIII Điều lệ Đảng ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng quy định: Cấp ủy các cấp có nhiệm vụ: "Thực hiện giải quyết tố cáo, giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng và tiến hành các nhiệm vụ kiểm tra khi cần thiết".

Tiết 1.1.1, Điểm 5.1, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn trên quy định: "Ủy ban kiểm tra các cấp có nhiệm vụ giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên thuộc phạm vi quản lý của cấp ủy cùng cấp.

Tổ chức đảng và đảng viên nhận được tố cáo phải bảo đảm bí mật cho người tố cáo và hướng dẫn người tố cáo thực hiện đúng quy định của Đảng, Nhà nước. Không để người bị tố cáo chủ trì giải quyết tố cáo đối với mình. Không để người tố cáo hoặc người có liên quan đến tố cáo giải quyết tố cáo. Có biện pháp bảo vệ người tố cáo. Ủy ban kiểm tra giải quyết tố cáo phải xử lý hoặc đề nghị cấp ủy xử lý hay chỉ đạo xử lý nghiêm mà những trường hợp sau: trù dập, trả thù người tố cáo; cản trở, dìm bỏ, không xem xét, giải quyết tố cáo; bao che những việc làm sai trái của đối tượng bị tố cáo; để lộ tên người tố cáo cho đối tượng tố cáo biết, để lộ tên người tố cáo, nội dung tố cáo cho người không có trách nhiệm biết; lợi dụng tố cáo để xuyên tạc sự thật, vu cáo, đả kích, gây dư luận xấu đối với người khác".

Căn cứ các quy định trên thì việc đảng viên gửi đơn tố cáo đến ban thường vụ huyện ủy và ủy ban kiểm tra huyện ủy là đúng quy định của Điều lệ Đảng và Hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương. Người tố cáo không phải báo cáo với tổ chức đảng nơi mình sinh hoạt và có quyền gửi đơn đến tổ chức đảng có thẩm quyền giải quyết; không có quy định nào của Đảng là trước khi gửi đơn tố cáo, phản ánh kiến nghị đảng viên phải báo cáo với chi bộ, cấp ủy cơ sở và ủy ban kiểm tra nơi sinh hoạt. Đây là một quy định để phát huy dân chủ trong Đảng, bảo đảm quyền của đảng viên và đã được quy định trong Điều lệ Đảng.

Đối tượng bị tố cáo theo nội dung câu hỏi nêu là cán bộ chủ chốt trong tổ chức đảng cơ sở thuộc diện huyện ủy quản lý, vì vậy ban thường vụ hoặc ủy ban kiểm tra huyện ủy có trách nhiệm xem xét, giải quyết và bảo vệ bí mật cho người tố cáo. Cấp có thẩm quyền giải quyết tố cáo lại chuyển đơn của đảng viên tố cáo về cho ban thường vụ đảng ủy và ủy ban kiểm tra đảng ủy xã giải quyết là sai, vi phạm các quy định của Điều lệ Đảng; không giải quyết đúng thẩm quyền, tiết lộ tên người tố cáo để người bị tố cáo giải quyết tố cáo đối với mình dẫn đến hiện tượng trù dập người tố cáo. Do đó, ban thường vụ huyện ủy, ủy ban kiểm tra huyện ủy phải kiểm tra dấu hiệu vi phạm của những tổ chức và cá nhân có liên quan trong việc giải quyết này để có kết luận và xử lý nghiêm minh các vi phạm nhằm giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng.

Câu hỏi 90: Đồng chí A bị khai trừ ra khỏi Đảng, có khiếu nại lên cấp trên. Khi xem xét, giải quyết, cấp trên phát hiện đồng chí này còn có một số vi phạm nữa nhưng chưa được xem xét xử lý. Vậy, có xem xét những vi phạm mới phát hiện này cùng với việc xem xét lại những vi phạm đã bị thi hành kỷ luật trong quy trình xem xét khiếu nại kỷ luật của đồng chí A hay không?

Trả lời:

Tiết 5.2.2, Điểm 5.2, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Trong quá trình giải quyết, nếu phát hiện đảng viên khiếu nại có dấu hiệu vi phạm hoặc có đơn tố cáo thì cấp có thẩm quyền giải quyết khiếu nại xem xét, quyết định".

Như vậy, theo quy định trên thì khi giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng, nói chung chỉ giải quyết những nội dung của kỷ luật đảng mà đối tượng bị kỷ luật có khiếu nại. Nếu qua xem xét những vi phạm đã nêu trong quyết định kỷ luật nhận thấy việc áp dụng hình thức kỷ luật khai trừ là thỏa đáng, thì không cần phải đi sâu xem xét những vấn đề mới phát hiện.

Trường hợp xét thấy việc vi phạm của đảng viên A (nêu trong quyết định kỷ luật) chưa đến mức phải khai trừ, thì có thể xem xét cả những vi phạm mới được phát hiện và việc giữ gìn tư cách từ sau khi bị thi hành kỷ luật khai trừ của đồng chí A đến thời điểm phải giải quyết khiếu nại kỷ luật để làm rõ nội dung, tính chất, mức độ, tác hại và nguyên nhân vi phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để có căn cứ, cơ sở quyết định giảm hay không giảm hình thức kỷ luật cho đồng chí đó.

Câu hỏi 91: Đồng chí H bị chi bộ thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo, đã khiếu nại vượt cấp lên đảng ủy cấp trên trực tiếp của đảng ủy cơ sở. Đảng ủy cơ sở mời đồng chí H đến làm việc, có đồng chí phó bí thư đảng ủy khối dự để bàn việc giải quyết khiếu nại nhưng đồng chí H không đến vì cho rằng mình không khiếu nại với đảng ủy cơ sở. Sau đó, lại đề nghị đảng ủy khối giải quyết khiếu nại.

Vậy, đảng ủy khối có giải quyết khiếu nại không?

Trả lời:

Tiết 5.2.1, Điểm 5.2.1, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Việc giải quyết nhiệm vụ kỷ luật của đảng viên phải tiến hành từ uỷ ban kiểm tra hoặc cấp uỷ cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng để quyết định xử lý kỷ luật... Đảng viên bị kỷ luật không đồng ý với quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật được khiếu nại lên tổ chức đảng cấp trên cho đến Bộ Chính trị hoặc Ban Chấp hành Trung ương".

Điểm 8.5, Khoản 8, Điều 38 trong Hướng dẫn trên quy định: "Tổ chức đảng khi nhận được khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết thì chuyển cho tổ chức đảng có thẩm quyền giải quyết đồng thời báo cho người khiếu nại biết".

Như vậy, trường hợp câu hỏi nêu, đảng ủy khối khi nhận được khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết thì phải chuyển đơn khiếu nại để đảng ủy cơ sở xem xét, giải quyết theo quy định, báo cáo người khiếu nại biết và yêu cầu chấp hành đúng quy định của Đảng về khiếu nại và giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng

Câu hỏi 92: Những khiếu nại nào không thuộc trách nhiệm giải quyết của ủy ban kiểm tra Đảng?

Trả lời:

Tiết 5.2.2, Điểm 5.2, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Uỷ ban kiểm tra cấp trên chỉ giải quyết khiếu nại kỷ luật do tổ chức đảng cấp dưới trực tiếp đã quyết định kỷ luật hoặc đã quyết định giải quyết khiếu nại".

Như vậy, theo quy định trên thì ủy ban kiểm tra Đảng chỉ giải quyết những khiếu nại kỷ luật trong Đảng. Những khiếu nại kỷ luật do các cơ quan nhà nước quyết định khiếu nại về lịch sử chính trị, tính tuổi đảng, xử lý đảng tịch, xóa tên trong danh sách đảng viên, đề bạt… thì ủy ban kiểm tra Đảng chuyển cho cơ quan chức năng có thẩm quyền giải quyết, đồng thời báo cho người khiếu nại biết. Cơ quan chức năng sau khi giải quyết, phải thông báo kết quả cho ủy ban kiểm tra đã chuyển đơn khiếu nại.

Câu hỏi 93: Những đơn khiếu nại nào về kỷ luật đảng mà ủy ban kiểm tra các cấp không giải quyết?

Trả lời:

Theo quy định tại Tiết 5.2.2, Điểm 5.2, Khoản 5, Điều 32 và Khoản 7, Điều 39 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương thì những đơn khiếu nại kỷ luật trong Đảng, ủy ban kiểm tra không xem xét giải quyết gồm có:

- Đơn khiếu nại quá thời hạn (30 ngày làm việc).

- Đang được cấp trên có thẩm quyền giải quyết.

- Đơn khiếu nại đã được Bộ Chính trị hoặc Ban Chấp hành Trung ương giải quyết theo quy định là cấp giải quyết cuối cùng.

- Đơn khiếu nại của đảng viên bị tòa án xử phạt từ cải tạo không giam giữ trở lên nhưng chưa được tòa án có thẩm quyền ra quyết định hủy bỏ bản án.

- Đơn khiếu nại không phải của người hoặc tổ chức bị thi hành kỷ luật về Đảng trực tiếp khiếu nại (khiếu nại hộ).

- Khiếu nại khi chưa nhận được quyết định kỷ luật bằng văn bản của tổ chức đảng có thẩm quyền.

Trường hợp đảng viên bị thi hành kỷ luật có khiếu nại, chưa được tổ chức đảng có thẩm quyền giải quyết mà đã qua đời, nếu thân nhân (cha, mẹ, vợ (chồng), con, anh, chị, em ruột) của đảng viên đó đề nghị cho biết kết quả thì thông báo kết quả giải quyết cho tổ chức đảng nơi cư trú và thân nhân người khiếu nại biết.

Câu hỏi 94: Đảng viên hoặc tổ chức đảng bị xử lý kỷ luật thực hiện quyền khiếu nại về kỷ luật như thế nào và trong thời gian chờ giải quyết khiếu nại có phải chấp hành quyết định kỷ luật đã ban hành không?

Trả lời:

Khoản 7, Khoản 9, Điều 39, Điều lệ Đảng quy định:

"Tổ chức đảng, đảng viên không đồng ý với quyết định kỷ luật thì trong vòng một tháng, kể từ ngày nhận quyết định, có quyền khiếu nại với cấp uỷ hoặc ủy ban kiểm tra cấp trên cho đến Ban Chấp hành Trung ương. Việc giải quyết khiếu nại kỷ luật, thực hiện theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương".

"Trong khi chờ giải quyết khiếu nại, tổ chức đảng và đảng viên bị kỷ luật phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định kỷ luật".

Như vậy, theo các quy định trên, đảng viên hoặc tổ chức đảng bị xử lý kỷ luật không đồng ý với quyết định kỷ luật thì trong vòng một tháng (30 ngày làm việc), kể từ ngày nhận quyết định, có quyền khiếu nại với cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra cấp trên cho đến Bộ Chính trị hoặc Ban Chấp hành Trung ương. Trong thời gian chờ giải quyết khiếu nại, tổ chức đảng hoặc đảng viên bị kỷ luật phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định kỷ luật đã ban hành theo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng.

Câu hỏi 95: Theo quy định của Điều lệ Đảng, nếu đảng viên và tổ chức đảng không đồng ý với quyết định kỷ luật "có quyền khiếu nại với cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra cấp trên cho đến Ban Chấp hành Trung ương". Vậy đảng viên hoặc chi bộ, đảng ủy cơ sở bị thi hành kỷ luật thì có được khiếu nại thẳng lên Ban Chấp hành Trung ương không?

Trả lời:

Khoản 7, Điều 39 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:

"Tổ chức đảng, đảng viên không đồng ý với quyết định kỷ luật thì trong vòng một tháng, kể từ ngày nhận quyết định, có quyền khiếu nại với cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra cấp trên cho đến Ban Chấp hành Trung ương. Việc giải quyết khiếu nại kỷ luật, thực hiện theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương.

7.1- Việc giải quyết khiếu nại về kỷ luật đảng được tiến hành từ uỷ ban kiểm tra hoặc cấp uỷ cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng để quyết định thi hành kỷ luật. Sau khi được giải quyết, nếu đảng viên hoặc tổ chức đảng bị thi hành kỷ luật không đồng ý, có khiếu nại tiếp thì tổ chức đảng cấp trên tiếp tục giải quyết cho đến Bộ Chính trị hoặc Ban Chấp hành Trung ương.

Như vậy, Điều lệ Đảng và Hướng dẫn trên quy định tổ chức đảng và đảng viên bị thi hành kỷ luật có quyền khiếu nại đến Ban Chấp hành Trung ương là thể hiện tính nghiêm minh và dân chủ cao trong việc thi hành kỷ luật đảng. Điều đó không có nghĩa là đảng viên hoặc chi bộ, đảng ủy cơ sở bị thi hành kỷ luật nếu không đồng ý thì khiếu nại thẳng lên Ban Chấp hành Trung ương ngay, mà phải tiến hành từ cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật. Sau đó, nếu đảng viên hoặc tổ chức đảng bị thi hành kỷ luật không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại ấy thì được tiếp tục khiếu nại lên tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên, lần lượt cho đến Bộ Chính trị hoặc Ban Chấp hành Trung ương.

Trường hợp nhận được đơn khiếu nại vượt cấp, cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy và ủy ban kiểm tra chuyển cho tổ chức đảng có thẩm quyền cấp dưới giải quyết, đồng thời báo cho đảng viên hoặc tổ chức đảng khiếu nại biết việc chuyển đơn khiếu nại ấy.

Câu hỏi 96: Đảng viên bị thi hành kỷ luật mới nhận quyết định được 10 ngày, đang viết đơn khiếu nại kỷ luật thì qua đời đột ngột vì bị tai nạn. Gia đình làm đơn khiếu nại hộ và gửi cả đơn khiếu nại kỷ luật đảng viết dở của đồng chí đó. Trường hợp này xử lý như thế nào?

Trả lời:

Tiết 5.2.2, Điểm 5.2, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Đảng viên bị kỷ luật có khiếu nại chưa được giải quyết đã qua đời thì tổ chức đảng vẫn phải xem xét, giải quyết; nếu thân nhân (cha, mẹ, vợ, hoặc chồng, con, anh, chị, em ruột) đề nghị cho biết kết quả thì thông báo kết quả giải quyết khiếu nại cho tổ chức đảng nơi cư trú và thân nhân người đó biết".

Trường hợp như câu hỏi đã nêu, tuy đơn khiếu nại của đảng viên chưa viết xong, mà đã đột ngột qua đời nhưng đã thể hiện ý chí và quyền yêu cầu được giải quyết khiếu nại của đảng viên đó. Do vậy, tổ chức đảng có thẩm quyền có trách nhiệm thực hiện giải quyết khiếu nại đúng theo quy định trên của Đảng và thông báo cho thân nhân của đảng viên đó biết kết quả giải quyết

Câu hỏi 97: Đảng viên bị đảng ủy xã thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách, có khiếu nại và được ủy ban kiểm tra huyện ủy quyết định xóa bỏ hình thức kỷ luật đó. Đảng ủy xã không đồng tình với quyết định này của ủy ban kiểm tra huyện ủy thì làm thế nào? Có được báo cáo tỉnh ủy hay không?

Trả lời:

Điểm 1.3, Khoản 1, Điều 30 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Tổ chức đảng và đảng viên chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng... Chấp hành nghiêm chỉnh Điều lệ Đảng, các quy định của Đảng về kiểm tra, giám sát, các quyết định, kết luận, yêu cầu của chủ thể kiểm tra, giám sát".

Mặt khác, theo quy chế làm việc của ủy ban kiểm tra do cấp ủy các cấp quyết định ban hành cũng nêu rõ trong trường hợp tổ chức đảng cấp dưới còn có ý kiến khác với ủy ban kiểm tra cấp trên thì được quyền báo cáo với ban thường vụ cấp ủy cấp trên xem xét, quyết định.

Như vậy, trước hết đảng ủy xã phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại của ủy ban kiểm tra huyện ủy. Nếu thấy cần thiết, đảng ủy xã được quyền báo cáo để ban thường vụ huyện ủy xem xét, quyết định. Trong thời gian ban thường vụ huyện ủy chưa có ý kiến thì đảng ủy đã phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật của ủy ban kiểm tra huyện ủy.

Câu hỏi 98: Đảng viên B có vi phạm bị ủy ban kiểm tra huyện ủy thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng. Đảng viên B đã có đơn khiếu nại kỷ luật gửi lần lượt nên ban thường vụ huyện ủy và ủy ban kiểm tra tỉnh ủy. Sau khi giải quyết, ủy ban kiểm tra tỉnh ủy đã quyết định giảm hình thức kỷ luật từ khai trừ xuống cảnh cáo đối với đảng viên B. Nhưng trong quyết định giải quyết khiếu nại có ghi: Tuổi đảng của đảng viên B được tính trong thời gian có quyết định khai trừ của ủy ban kiểm tra huyện ủy.

Việc tính tuổi đảng như trên có đúng không?

Trả lời:

- Sau khi đảng viên B nhận được quyết định thi hành kỷ luật khai trừ của ủy ban kiểm tra huyện ủy, đảng viên B có đơn khiếu nại lần lượt như trên là đúng quy định của Điều lệ Đảng.

Trong quá trình chờ quyết định giải quyết khiếu nại của ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, đảng viên B phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định của ủy ban kiểm tra và ban thường vụ huyện ủy.

Quyết định giải quyết khiếu nại của ủy ban kiểm tra tỉnh ủy chứng tỏ việc thi hành kỷ luật của ủy ban kiểm tra huyện ủy và quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật của ban thường vụ huyện ủy đối với đảng viên B là chưa chính xác, nghĩa là đảng viên B có vi phạm phải thi hành kỷ luật, nhưng chưa đến mức phải khai trừ.

- Trường hợp này, việc tính tuổi đảng thực hiện theo Hướng dẫn số 01-HD/TW ngày 05-01-2012 của Ban Bí thư về một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng khóa XI như sau: "Đối với những người bị đưa ra khỏi Đảng đã được cấp có thẩm quyền thẩm tra, xác minh, kết luận là bị oan, sai và từ khi đưa ra khỏi Đảng đến nay không vi phạm tư cách đảng viên, được khôi phục quyền đảng viên thì tuổi đảng được tính liên tục.

Câu hỏi 99: Sau khi nhận được quyết định kỷ luật cảnh cáo của đảng ủy xã, đồng chí B đã làm đơn khiếu nại gửi đảng ủy xã đề nghị xem xét lại hình thức kỷ luật đối với mình. Đảng ủy xã đã xem xét và quyết định giảm hình thức kỷ luật xuống khiển trách đối với đồng chí B.

Trong trường hợp này, đảng ủy xã có phải ra thêm quyết định nữa không?

Trả lời:

Tiết 5.2.1, Điểm 5.2, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Sau khi công bố quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật mà đảng viên bị kỷ luật khiếu nại trực tiếp đến cấp mình thì uỷ ban kiểm tra chủ động xem xét lại, nếu thấy quyết định không đúng mức thì thay đổi cho phù hợp".

- Căn cứ vào quy định trên thì khi đảng ủy xã xem xét, quyết định giảm hình thức kỷ luật từ cảnh cáo xuống khiển trách phải có quyết định mới thay cho quyết định kỷ luật đã công bố để bảo đảm tính thời hiệu, tính pháp lý và hiệu lực của quyết định.

Câu hỏi 100: Ủy ban kiểm tra nhận được một số đơn khiếu nại kỷ luật do các cơ quan nhà nước quyết định và khiếu nại về đảng tịch, đề bạt... Những trường hợp khiếu nại này, ủy ban kiểm tra có giải quyết không? Nếu không giải quyết thì phải làm gì?

Trả lời:

- Tiết 5.2.3, Điểm 5.2, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Đơn khiếu nại về xử lý hành chính, lịch sử chính trị, tuổi đảng, xoá tên trong danh sách đảng viên thì chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết và báo cho người khiếu nại biết".

- Ủy ban kiểm tra của cấp ủy là cơ quan tham mưu, giúp việc cho cấp ủy, thực hiện các nhiệm vụ do cấp ủy quy định. Vì vậy, ủy ban kiểm tra chỉ giải quyết những khiếu nại kỷ luật trong Đảng, còn những khiếu nại kỷ luật do cơ quan nhà nước quyết định hoặc khiếu nại về xử lý đảng tịch, đề bạt... thì ủy ban kiểm tra chuyển cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét về kỷ luật chính quyền; chuyển ban tổ chức có thẩm quyền xem xét về đảng tịch, đề bạt,… đồng thời, báo cho người khiếu nại biết. Ủy ban kiểm tra phải theo dõi kết quả giải quyết khiếu nại đó. Cơ quan chức năng sau khi giải quyết khiếu nại nói trên phải có trách nhiệm trả lời kết quả giải quyết khiếu nại cho đối tượng khiếu nại và thông báo kết quả cho ủy ban kiểm tra biết.

Câu hỏi 101: Về thời hạn khiếu nại kỷ luật đảng, tại Khoản 7, Điều 39 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Tổ chức đảng, đảng viên không đồng ý với quyết định kỷ luật thì trong vòng một tháng, kể từ ngày nhận quyết định, có quyền khiếu nại với cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra cấp trên...". Nhưng Tiết 50.8, Điểm 50 Quy định số 45-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng quy định: "Không giải quyết những trường hợp khiếu nại sau đây: Quá thời hạn 30 ngày làm việc...".

Như vậy, khi xem xét về thời hạn giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng thì thực hiện theo quy định nào, nên áp dụng quy định "một tháng" hay "30 ngày làm việc"?

Trả lời:

- Khoản 7, Điều 39 Điều lệ Đảng khóa XI quy định: "Tổ chức đảng, đảng viên không đồng ý với quyết định kỷ luật thì trong vòng một tháng, kể từ ngày nhận quyết định, có quyền khiếu nại với cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra cấp trên cho đến Ban Chấp hành Trung ương".

Khoản 7, Điều 39 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đang khoá XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương (gọi tắt là Hướng dẫn 46) quy định: "Tổ chức đảng, đảng viên không đồng ý với quyết định kỷ luật thì trong vòng một tháng, kể từ ngày nhận quyết định, có quyền khiếu nại với cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra cấp trên cho đến Ban Chấp hành Trung ương".

Các quy định trên đều là quy định của Điều lệ Đảng. Tuy nhiên, "một tháng" theo dương lịch số ngày trong tháng chưa thật rõ và cụ thể (vì có tháng 30 ngày, có tháng 31 ngày, có tháng 29 ngày cá biệt có tháng chỉ có 28 ngày); mặt khác cần bảo đảm quyền lợi và tạo điều kiện tốt nhất cho đảng viên khiếu nại, Ban Chấp hành Trung ương quy định cụ thể để thống nhất thời hạn khiếu nại như sau:

- Tiết 50.8, Điểm 50 Quy định số 45-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng (gọi tắt là Quy định 45) quy định: "Không giải quyết những trường hợp khiếu nại sau đây: Quá thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày tổ chức đảng, đảng viên vi phạm được tổ chức đảng có thẩm quyền công bố quyết định kỷ luật …".

Tiết 5.2.1, Điểm 5.2, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn 46 cũng quy định: "Thời hạn khiếu nại trong vòng 30 ngày làm việc".

Như vậy, Điều lệ Đảng quy định thời hạn giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng là một tháng, còn trong Quy định 45 và trong Hướng dẫn 46 thì quy định thời hạn giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng là "30 ngày làm việc" là hướng dẫn cụ thể thi hành Điều lệ Đảng, theo hướng tạo điều kiện có lợi cho người khiếu nại nên không trái với quy định của Điều lệ Đảng. Do đó, khi xem xét, giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng thống nhất thực hiện thời hạn khiếu nại là "30 ngày làm việc".

Câu hỏi 102: Đồng chí M là bí thư chi bộ, bị đảng ủy xã thi hành kỷ luật bằng hình thức cách chức. Đồng chí M yêu cầu đảng ủy xã sao gửi cho mình toàn bộ hồ sơ kỷ luật, nhưng không được giải quyết nên đồng chí khiếu nại và đề nghị các cấp giải quyết yêu cầu của mình và tố cáo đảng ủy xã vi phạm quyền dân chủ của đảng viên.

Việc làm đó của đồng chí M đúng hay sai?

Trả lời:

Đồng chí M bị thi hành kỷ luật cách chức, nhưng không khiếu nại về kỷ luật đảng mà lại yêu cầu tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật phải sao hồ sơ kỷ luật cho mình, khi không được đảng ủy xã giải quyết, đồng chí M lại khiếu nại và đề nghị các cấp giải quyết yêu cầu của mình và tố cáo đảng ủy xã vi phạm quyền dân chủ của đảng viên là không đúng quy định của Điều lệ Đảng và các quy định của Đảng. Vì theo quy định của Điều lệ Đảng và Hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương thực hiện các quy định về công tác kiểm tra giám sát, kỷ luật đảng, về nguyên tắc, thủ tục thi hành kỷ luật trong Đảng và quyền của đảng viên đều không quy định đảng viên được quyền nhận lại bản sao chụp hồ sơ kỷ luật của mình. Mặt khác, hồ sơ kỷ luật của Đảng là tài liệu mật, được bảo quản và sử dụng theo quy định của Đảng, không được sao chụp để gửi cho tổ chức, cá nhân không có thẩm quyền quản lý.

Việc làm của cấp ủy và tổ chức đảng các cấp như câu hỏi nêu là đúng, không vi phạm quyền dân chủ của đảng viên. Các tổ chức đảng có thẩm quyền cần giải thích rõ để đồng chí M hiểu đúng các quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và chấp hành nghiêm chỉnh.

Câu hỏi 103: Khi đảng viên bị thi hành kỷ luật có khiếu nại và đã được ủy ban Kiểm tra Trung ương giải quyết. Chi bộ có quyền phản ánh, báo cáo những nội dung khác so với kết luận của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương lên Ban Bí thư để Ban Bí thư giải quyết hay không?

Trả lời:

Tiết 5.2.1 và Tiết 5.2.2, Điểm 5.2, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng quy định:

"Đảng viên bị kỷ luật không đồng ý với quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật được khiếu nại lên tổ chức đảng cấp trên cho đến Bộ Chính trị hoặc Ban Chấp hành Trung ương. Thời hạn khiếu nại trong vòng 30 ngày làm việc, tính từ ngày đảng viên vi phạm được tổ chức đảng có thẩm quyền công bố quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật (căn cứ biên bản công bố đến ngày đảng viên bị kỷ luật gửi đơn khiếu nại trực tiếp hoặc theo dấu bưu điện".

"Không giải quyết những trường hợp khiếu nại sau: quá thời hạn 30 ngày làm việc; đang được cấp trên có thẩm quyền giải quyết; đã được cấp có thẩm quyền cao nhất xem xét, kết luật;…khiếu nại hộ; khiếu nại khi chưa nhận được quyết định kỷ luật bằng văn bản của tổ chức đảng có thẩm quyền".

Như vậy, sau khi ủy ban Kiểm tra Trung ương có quyết định giải quyết thiếu nại kỷ luật, nếu không đồng ý đảng viên X có quyền khiếu nại tiếp lên Ban Bí thư Trung ương Đảng. Chi bộ, đảng ủy không có quyền khiếu nại hộ cho đảng viên X.

Câu hỏi 104: Đảng viên A sinh hoạt tại chi bộ B, vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật. Qua xem xét, Ban Thường vụ Thành ủy Q đã tiến hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng, đồng chí A khiếu nại lên ủy ban kiểm tra tỉnh ủy. Trong báo cáo giải quyết khiếu nại, tổ kiểm tra ghi: Báo cáo giải quyết khiếu nại kỷ luật đối với đồng chí A, nguyên đảng viên sinh hoạt tại chi bộ B. Như vậy, việc dùng cụm từ "nguyên đảng viên" là đúng hay sai, nếu sai thì sửa lại thế nào?

Trả lời:

Khoản 9, Điều 39 Điều lệ Đảng quy định: "Trong khi chờ giải quyết khiếu nại tổ chức đảng và đảng viên bị kỷ luật phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định kỷ luật".

Như vậy, đảng viên A bị khai trừ ra khỏi Đảng, về nguyên tắc, khi chưa được tổ chức đảng có thẩm quyền giải quyết khiếu nại quyết định thay đổi hình thức kỷ luật thì không còn là đảng viên của Đảng. Do vậy, khi giải quyết thiếu nại, tổ kiểm tra của ủy ban kiểm ra tỉnh ủy dùng cụm từ "nguyên đảng viên" trong báo cáo giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng đối với đồng chí A và đúng.

Câu hỏi 105: Một đảng viên vi phạm bị xử lý kỷ luật cảnh cáo, sau đó đảng viên có khiếu nại. Tổ chức đảng có thẩm quyền đã giải quyết khiếu nại, quyết định giảm hình thức kỷ luật từ cảnh cáo xuống khiển trách.

Vậy thời gian chấm dứt hiệu lực của quyết định kỷ luật tính từ khi đảng viên đó bị xử lý kỷ luật cảnh cáo hay tính từ khi có quyết định giam từ hình thức kỷ luật cảnh cáo xuống khiển trách?

Trả lời:

Điểm 3.2, Khoản 3, Điều 40 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Sau một năm, kể từ ngày có quyết định kỷ luật hoặc quyết định khiếu nại kỷ luật (trừ quyết định kỷ luật khai trừ), nếu đảng viên không tái phạm hoặc không có vi phạm mới đến mức phải xử lý kỷ luật thì quyết định kỷ luật đương nhiên chấm dứt hiệu lực".

Tiết 5.2.1, Điểm 5.2, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn này cũng quy định: "Trong khi chờ giải quyết khiếu nại, đảng viên bị kỷ luật phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật".

Như vậy, căn cứ các quy định trên, trường hợp câu hỏi nêu, trong khi chờ giải quyết khiếu nại, đảng viên phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định kỷ luật. Khi có quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật thì thời gian chấm dứt hiệu lực kỷ luật là sau một năm và được tính từ ngày có quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật đối với đảng viên đó. Như vậy, sẽ tính từ ngày có quyết định giảm hình thức kỷ luật cảnh cáo xuống khiển trách.

Câu hỏi 106: Đồng chí H, đảng viên dự bị vi phạm pháp luật bị cơ quan pháp luật ra quyết định truy tố. Trong chi bộ có ý kiến đề nghị xóa tên trong danh sách đảng viên. Song, cũng có ý kiến cho rằng chỉ đình chỉ sinh hoạt đảng đối với đồng chí H, chờ kết luận của cơ quan pháp luật để xern xét xử lý kỷ luật.

Ý kiến nào đúng và xử lý thế nào?

Trả lời:

Điểm 4.1, Khoản 4, Điều 40 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết đinh số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Đảng viên (kể cả cấp uỷ viên) có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng mà có hành vi cố ý gây trở ngại cho hoạt động của cấp uỷ và công tác kiểm tra của Đảng hoặc bị cơ quan pháp luật có thẩm quyền ra quyết định truy tố, tạm giam thì phải đình chỉ sinh hoạt đảng".

Nhưng tại Điểm 1.2, Khoản 1, Điều 40 Hướng dẫn trên còn quy định: "Đảng viên bị khởi tố, truy tố hoặc bị tạm giam, nếu tổ chức đảng có thẩm quyền kết luận rõ đảng viên có vi phạm đến mức phải xử lý thì chủ động xem xét, xử lý kỷ luật đảng, không nhất thiết chờ kết luận hoặc tuyên án của tòa án có thẩm quyền, không cần quyết định cho đảng viên, cấp uỷ viên trở lại sinh hoạt mới xem xét, xử lý kỷ luật. Sau khi có bản án hoặc quyết định của tòa án, nếu thấy cần thiết, tổ chức đảng có thẩm quyền kỷ luật xem xét lại việc kỷ luật đảng đối với đảng viên đó".

Như vậy, đảng viên dự bị H sau khi bi truy tố phải đình chỉ sinh hoạt đảng. Nếu tổ chức đảng nắm vững vi phạm của đồng chí H thì xem xét xử lý kỷ luật ngay. Nếu không nắm vững vi phạm của đảng viên thì chờ kết quả xử lý của cơ quan pháp luật và khi tòa án xét xử bản án đã có hiệu lực pháp luật thì tổ chức đảng tiến hành xem xét thi hành kỷ luật theo quy định của Điều lệ Đảng.

Nếu đảng viên dự bị H bị tòa án xử phạt từ hình phạt cải tạo không giam giữ trở lên, sau khi có bản án có hiệu lực pháp luật tổ chức đảng có thẩm quyền căn cứ bản án của tòa án để xóa tên trong danh sách đảng viên.

Câu hỏi 107: Đảng ủy cơ sở tiến hành kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với đồng chí Nguyễn Văn Q, trưởng tiểu khu. Qua kiểm tra đã kết luận đồng chí Nguyễn Văn Q có vi phạm trong quản lý và sử dụng quỹ của tiểu khu đến mức phải thi hành kỷ luật. Đảng ủy cơ sở đã tiến hành xem xét, xứ lý kỷ luật đồng chí Q bằng hình thức cảnh cáo. Trong buổi công bố quyết định kỷ luật, đồng chí Q không nhận quyết định kỷ luật của đảng ủy (có lập biên bản). Sau đó ít ngày, đồng chí Q làm đơn khiếu nại kỷ luật đảng lên tổ chức đảng cấp trên.

Trường hợp này có giải quyết đơn khiếu nại hay không?

Trả lời:

Điểm 6.3, Khoản 6, Điều 39 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Trường hợp đảng viên bị kỷ luật từ chối nghe công bố hoặc không nhận quyết định kỷ luật thì ghi vào biên bản, quyết định kỷ luật vẫn được công bố và có hiệu lực thi hành ngay".

Theo quy định trên, đảng viên Nguyễn Văn Q không nhận quyết định kỷ luật của đảng ủy thì quyết định vẫn có hiệu lực thi hành. Do đó, đảng viên Nguyễn Văn Q vẫn có quyền khiếu nại về quyết định kỷ luật đối với mình và tổ chức đảng nhận được đơn khiếu nại phải giải quyết theo thẩm quyền. Tuy nhiên, việc đảng viên Nguyễn Văn Q không nhận quyết định kỷ luật là vi phạm quy định của Đảng, do đó khi giải quyết khiếu nại, tổ chức đảng có thẩm quyền cần xem xét trách nhiệm của đảng viên Nguyễn Văn Q về vi phạm này và yêu cầu đồng chí Nguyễn Văn Q trong khi chờ giải quyết khiếu nại kỷ luật phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định kỷ luật của đảng ủy cơ sở.

-------------------------------------------------------------------------------------------------

 

Phần thứ năm

ĐÌNH CHỈ SINH HOẠT ĐẢNG 

Câu hỏi 108: Trường hợp đảng viên vi phạm trong quản lý kinh tế, được thanh tra nhà nước kết luận là cố ý làm trái nguyên tắc quản lý kinh tế, gây thiệt hại nghiêm trọng tài sản xã hội chủ nghĩa và bị chính quyền cấp trên quyết định cách chức, cơ quan pháp luật đã khởi tố vụ án, nhưng chưa khởi tố bị can.

Chi bộ căn cứ vào kết luận của thanh tra để xem xét, xử lý kỷ luật và đề nghị khai trừ có được không, hay phải ra quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng để chờ kết luận của cơ quan pháp luật?

Trả lời:

- Điểm 4.1, Khoản 4, Điều 40 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Việc đình chỉ sinh hoạt đảng của đảng viên, đình chỉ sinh hoạt cấp uỷ của cấp uỷ viên, đình chỉ hoạt động của tổ chức đảng nhằm ngăn chặn hành vi gây trở ngại cho việc xem xét, kết luận của tổ chức đảng có thẩm quyền hoặc hành vi làm cho vi phạm trở nên nghiêm trọng hơn.

- Đảng viên (kể cả cấp uỷ viên) có dấu hiện vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng mà có hành vi cố ý gây trở ngại cho hoạt động của cấp ủy và công tác kiểm tra của Đảng hoặc bị cơ quan pháp luật có thẩm quyền ra quyết định truy tố, tạm giam thì phải đình chỉ sinh hoạt đảng".

- Trường hợp như câu hỏi đã nêu, chi bộ chủ động căn cứ vào quyết định của thanh tra Nhà nước và kết quả thẩm tra xác minh những nội dung cần thiết để xem xét, xử lý kỷ luật theo thẩm quyền hoặc đề nghị tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, xử lý kỷ luật đối với đảng viên vi phạm. Khi có bản án hoặc quyết định của tòa án, nếu thấy cần thiết thì chi bộ hoặc tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét lại kỷ luật đảng đối với đảng viên đó.

Theo quy định trên, việc ra quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng của đảng viên chỉ thực hiện trong trường hợp đảng viên (kể cả cấp ủy viên, có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng mà có hành vi cố ý gây trở ngại cho hoạt động của cấp ủy và công tác kiểm tra của Đảng hoặc đảng viên bị truy tố hoặc tạm giam. Do đó, không được đình chỉ sinh hoạt đảng của đảng viên trong trường hợp bị khởi tố vụ án.

Câu hỏi 109: Đảng viên dự bị bị truy tố hoặc tạm giam thì ra quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng hay xóa tên trong danh sách đảng viên dự bị?

Trả lời:

Điều 3, Điều lệ Đảng khóa XI quy định:

"Đảng viên có quyền:

1. Được thông tin và thảo luận các vấn đề về Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; biểu quyết công việc của Đảng.

2. Ứng cử, đề cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương.

3, Phê bình, chất vấn về hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên ở mọi cấp trong phạm vi tổ chức; báo cáo, kiến nghị với các cơ quan có trách nhiệm và yêu cầu được trả lời.

4. Trình bày ý kiến khi tổ chức đảng nhận xét, quyết định công tác hoặc thi hành kỷ luật đối với mình.

Đảng viên dự bị có các quyền trên đây, trừ quyền biểu quyết, ứng cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo của Đảng".

Điểm 4.1, Khoản 4, Điều 40 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Đảng viên (kể cả cấp uỷ viên) có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng mà có hành vi cố ý gây trở ngại cho hoạt động của cấp uỷ và công tác kiểm tra của Đảng hoặc bị cơ quan pháp luật có thẩm quyền ra quyết định truy tố, tạm giam thì phải đình chỉ sinh hoạt đảng".

Theo các quy định trên thì đảng viên dự bị có các quyền như đảng viên chính thức, trừ quyền biểu quyết, ứng cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo của Đảng. Do đó, khi đảng viên dự bị bị truy tố hoặc tạm giam thì tổ chức đảng ra quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng như đảng viên khác. Sau đó, tổ chức đảng có thẩm quyền căn cứ vào kết luận hoặc quyết định của cơ quan pháp luật mà xem xét, xử lý kỷ luật bằng hình thức thích hợp hoặc xóa tên trong danh sách đảng viên dự bị.

Câu hỏi 110: Đảng viên bị đình chỉ sinh hoạt đảng có phải nộp đảng phí không?

Trả lời:

Khoản 4, Điều 2, Điều lệ Đảng khóa XI quy định: Đảng viên có nhiệm vụ "sinh hoạt đảng và đóng đảng phí đúng quy định".

Việc tổ chức đảng quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng của đảng viên có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng kỷ luật của Đảng là nhằm ngăn chặn hành động gây trở ngại cho hoạt động của cấp ủy và công tác kiểm tra của Đảng hoặc bị cơ quan pháp luật có thẩm quyền ra quyết định truy tố, tạm giam. Vì vậy, đảng viên bị đình chỉ sinh hoạt đảng vẫn là đảng viên của Đảng (tạm thời không được sinh hoạt đảng trong thời gian bị đình chỉ) phải thực hiện các nhiệm vụ của đảng viên theo quy định của Điều lệ Đảng. Do đó, đảng viên bị đình chỉ sinh hoạt đảng vẫn phải đóng đảng phí theo quy định.

Câu hỏi 111: Trường hợp đảng viên (kể cả cấp ủy viên) đã bị khởi tố và được tại ngoại, nhưng vẫn được sinh hoạt đảng (bao gồm cả sinh hoạt cấp ủy) đều đặn. Như vậy có đúng không?

Trả lời:

Khoản 4, Điều 40, Điều lệ Đảng khóa XI quy định: "Việc đình chỉ sinh hoạt đảng của đảng viên, đình chỉ sinh hoạt cấp uỷ của cấp ủy viên, đình chỉ hoạt động của tổ chức đảng phải được cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra có thẩm quyền quyết định theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương".

Điểm 4.1, Khoản 4, Điều 40 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm ra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:

"Đảng viên (kể cả cấp uỷ viên) có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng mà có hành vi cố ý gây trở ngại cho các hoạt động của cấp uỷ và công tác kiểm tra của Đảng hoặc bị cơ quan pháp luật có thẩm quyền ra quyết định truy tố, tạm giam thì phải đình chỉ sinh hoạt đảng.

Cấp uỷ viên có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng mà có hành động cụ thể cố ý gây trở ngại cho hoạt động của cấp uỷ và công tác kiểm tra của Đảng hoặc bị cơ quan pháp luật có thẩm quyền ra quyết định khởi tố thì phải đình chỉ sinh hoạt cấp uỷ. Cấp uỷ viên bị đình chỉ sinh hoạt đảng đương nhiên bị đình chỉ sinh hoạt cấp uỷ".

Căn cứ vào các quy định trên, trường hợp đảng viên (không giữ chức vụ) có dấu hiệu vi phạm pháp luật, nếu chỉ mới bị khởi tố, không bị tạm giam thì chưa phải đình chỉ sinh hoạt đảng đảng viên đó vẫn được sinh hoạt đảng bình thường.

Trường hợp đảng viên là cấp ủy viên có dấu hiệu vi phạm pháp luật, bị khởi tố thì phải đình chỉ sinh hoạt cấp ủy của cấp ủy viên đó và đương nhiên không được sinh hoạt cấp ủy và không hoạt động với danh nghĩa là cấp ủy viên trong thời gian bị đình chỉ sinh hoạt cấp ủy.

Như vậy, trường hợp cấp ủy viên đã bị khởi tố và được tại ngoại, nhưng vẫn được sinh hoạt cấp ủy đều đặn là sai quy định của Điều lệ Đảng và các quy định của Đảng.

Câu hỏi 112: Thẩm quyền đình chỉ sinh hoạt đảng của đảng viên, đình chỉ sinh hoạt cấp ủy của cấp ủy viên và đình chỉ hoạt động của tổ chức đảng được quy định như thế nào? Thủ tục thực hiện các thẩm quyền này như thế nào?

Trả lời:

Điểm 51.3, Mục 51 Quy định số 45-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng quy định thẩm quyền và thủ tục thực hiện đình chỉ sinh hoạt đảng của đảng viên, đình chỉ sinh hoạt cấp ủy của cấp ủy viên, đình chỉ hoạt động của tổ chức đảng như sau:

"Tổ chức đảng nào có thẩm quyền khai trừ đảng viên, cách chức cấp uỷ viên, giải tán tổ chức đảng thì tổ chức đảng đó có thẩm quyền đình chỉ sinh hoạt đảng của đảng viên, đình chỉ sinh hoạt cấp uỷ của cấp uỷ viên, đình chỉ sinh hoạt cấp uỷ của cấp uỷ viên, đình chỉ hoạt động của tổ chức đảng.

a) Đình chỉ sinh hoạt đảng của đảng viên do chi bộ và đảng uỷ cơ sở đề nghị,  uỷ ban kiểm tra cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng hoặc đảng uỷ cơ sở được uỷ quyền quyết định. Đối với đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý, chi bộ và đảng uỷ cơ sở đề nghị, ban thường vụ cấp uỷ quản lý cán bộ đó quyết định.

b) Đình chỉ sinh hoạt đảng hoặc đình chỉ sinh hoạt cấp uỷ của cấp uỷ viên do chi bộ hoặc cấp uỷ cùng cấp đề nghị, cấp uỷ cấp trên trực tiếp quyết định. Nếu đảng viên tham gia nhiều cấp uỷ thì cấp uỷ phát hiện đảng viên có dấu hiệu vi phạm đề nghị, cấp uỷ có thẩm quyền cách chức cấp uỷ viên, khai trừ đảng viên đó quyết định.

c) Đình chỉ hoạt động của một tổ chức đảng do cấp uỷ cấp trên trực tiếp đề nghị, cấp uỷ cấp trên cách một cấp quyết định. Đình chỉ hoạt động của một cấp uỷ hoặc ban thường vụ cấp uỷ trực thuộc Trung ương do Bộ Chính trị hoặc Ban Bí thư quyết định và báo cáo với Ban Chấp hành Trung ương".

Điểm 4.2, Khoản 4, Điều 40 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định thẩm quyền đình chỉ sinh hoạt đảng của cấp uỷ viên cấp dưới trực tiếp và đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ viên cùng cấp quản lý nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp như sau:

"Uỷ ban kiểm tra từ cấp huyện, quận và tương đương trở lên được quyền quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng của cấp uỷ viên cấp dưới trực tiếp và đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cùng cấp quản lý (ở Trung ương là Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý) nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp khi bị tạm giam, truy tố; quyết định đình chỉ sinh hoạt cấp uỷ viên cấp dưới trực tiếp khi bị khởi tố".

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây